---
title: "Ba chữ P bền vững: đo con người và hành tinh thế nào"
description: "Ba đường đáy của Elkington không cộng thành một con số, theo Norman và MacDonald. Bảng điểm tách ba chữ P cho SME, kèm ví dụ giả định."
url: "https://staging.khoi.co.uk/blog/ba-chu-p-do-gi-ngoai-loi-nhuan"
lang: vi
author: "Lê Quốc Khôi"
date: 2026-11-03
updated: 2026-11-03
topics: ["Đạo đức & quản trị công ty"]
tags: ["Ba đường đáy", "Đo lường bền vững", "John Elkington", "ESG", "Báo cáo cho SME"]
---

# Ba chữ P của bền vững: đo gì khi không chỉ đo lợi nhuận

## Tóm tắt nhanh

- Ba chữ P là lợi nhuận, con người và hành tinh. Elkington nói ý ban đầu rộng hơn tài chính: theo dõi và quản lý giá trị kinh tế (không chỉ tài chính), xã hội và môi trường được tạo ra hoặc bị phá huỷ (Elkington, 2018).
- Norman và MacDonald lập luận rằng khẳng định ba "đường đáy" cộng được thành một con số là điểm riêng của khung này và là điểm không đứng vững (Norman và MacDonald, 2004).
- Elkington (2018) ghi nhận hàng nghìn báo cáo ba đường đáy ra đời mỗi năm, nhưng chưa rõ dữ liệu có được tổng hợp và phân tích để giúp người ra quyết định.
- Bảng điểm tách ba chữ P và "Công ty V" trong bài là đề xuất và ví dụ giả định của tôi. Các nguồn tôi đọc không đưa chỉ số nào để dùng.

Khách hàng lớn gửi bảng hỏi nhà cung cấp, ngân hàng hỏi về tác động môi trường, và bạn nghe cụm "ba chữ P" nhiều lần. Con số nào ghi vào chữ P thứ hai và thứ ba? John Elkington, người tự nhận đặt ra cụm "ba đường đáy" năm 1994, viết năm 2018 rằng mỗi năm có hàng nghìn báo cáo như vậy, nhưng chưa rõ dữ liệu có giúp ai ra quyết định (Elkington, 2018). Bài này nói về chỗ vướng ấy: đo, và cộng.

## Ba chữ P nói gì, và Elkington muốn nó làm gì?

Một bài blog của HBS Online (Miller, 2020) mô tả ba đường đáy là khái niệm kinh doanh cho rằng công ty nên cam kết đo tác động xã hội và môi trường, ngoài hiệu quả tài chính, thay vì chỉ nhìn lợi nhuận; ba chữ P là lợi nhuận, con người và hành tinh (Miller, 2020). Ví dụ bài đưa ra khá chung: tuyển dụng công bằng, hợp tác với tổ chức phi lợi nhuận, dùng nguyên liệu có nguồn gốc đạo đức, giảm tiêu thụ năng lượng, tối ưu vận chuyển (Miller, 2020). Bảng [ba trụ cột kết quả](https://staging.khoi.co.uk/framework/triple-bottom-line) của thư viện lấy cùng loại ví dụ.

> **Hình:** [Ba trụ cột kết quả (Lợi nhuận – Con người – Hành tinh)](https://staging.khoi.co.uk/framework/triple-bottom-line) Ba trụ cột kết quả: câu hỏi cốt lõi và hành động điển hình (theo bảng của thư viện; nguồn gốc ghi Elkington, 1997).

Elkington viết khác. Theo ông, bản gốc khuyến khích doanh nghiệp theo dõi và quản lý giá trị kinh tế (không chỉ tài chính), xã hội và môi trường được thêm vào hoặc bị phá huỷ, và ý tưởng đó chảy vào các nền tảng như Global Reporting Initiative (GRI) và Dow Jones Sustainability Indexes (DJSI). Ông viết rằng khung này không được thiết kế chỉ để làm công cụ kế toán, nhưng nhiều người dùng sớm hiểu nó là bài toán cân bằng, theo tư duy đánh đổi (Elkington, 2018). [Bài về tiếp thị bền vững](https://staging.khoi.co.uk/blog/marketing-ben-vung-khong-phai-csr) đã dùng đoạn này khi bàn tuyên bố môi trường; ở đây tôi quay lại vì nó chạm đúng chỗ đo lường.

## Vì sao ba đường đáy khó cộng thành một con số?

Norman và MacDonald tách khung này thành vài khẳng định. Khẳng định về đo lường nói rằng các thành phần của "hiệu quả xã hội" có thể đo tương đối khách quan bằng chỉ số chuẩn, rồi kiểm toán và báo cáo. Khẳng định về cộng gộp nói rằng có thể tính một "đường đáy xã hội", tương tự lãi lỗ ròng, từ các chỉ số đó bằng một công thức tương đối không gây tranh cãi, dùng được cho mọi công ty (Norman và MacDonald, 2004). Theo họ, chỉ khẳng định thứ hai là riêng của cách tiếp cận "đường đáy", và họ cho rằng nó không đứng vững; theo hiểu biết của họ, chưa ai đề xuất phương pháp tính (Norman và MacDonald, 2004).

Lý do thứ nhất: kế toán tài chính dựa trên giả định "đơn vị đo", mọi khoản thu, chi, tài sản quy được về một đơn vị tiền. Ở phía xã hội không có đơn vị chung hiển nhiên cho mọi điều tốt và xấu mà doanh nghiệp gây ra cho các nhóm khác nhau (Norman và MacDonald, 2004). Họ cho một danh sách chỉ số giả định: 20% giám đốc là nữ, 7% quản lý cấp cao thuộc nhóm thiểu số hữu hình, quyên góp 1,2% lợi nhuận, tỷ lệ nghỉ việc của lao động theo giờ 4%, hai lần bị phạt vì khí thải độc. Họ nhận xét rằng ngoài ngữ cảnh khó nói các số này tốt hay xấu, và hai phần trăm khác loại không cộng thành một tỷ lệ có nghĩa (Norman và MacDonald, 2004).

Lý do thứ hai: các giá trị không so được với nhau. Họ nêu ba cặp: chính sách thân thiện gia đình hào phóng cùng ba vụ kiện quấy rối trong năm; chính sách nguồn cung đạo đức do một tổ chức nhân quyền quốc tế kiểm toán cùng ba tháng đình công gay gắt ở trong nước; khoản quyên góp 2% lợi nhuận gộp cùng một án định giá. Họ hỏi có cách hiển nhiên nào để biết mỗi cặp là lãi hay lỗ ròng không, và trả lời rằng việc cân đo chúng cần phán đoán giá trị mà người hợp lý có thể bất đồng (Norman và MacDonald, 2004).

## Báo cáo nhiều có dùng được không?

Elkington viết rằng ba đường đáy và các biến thể đã bị các kế toán viên và tư vấn báo cáo chiếm lấy và pha loãng. Ông ghi nhận hàng nghìn báo cáo ra đời mỗi năm, nhưng chưa rõ dữ liệu có được tổng hợp và phân tích để giúp người ra quyết định và hoạch định chính sách theo dõi, hiểu và quản lý các tác động hệ thống (Elkington, 2018). Ông cũng viết rằng lãnh đạo doanh nghiệp dốc sức đạt chỉ tiêu lợi nhuận, còn chỉ tiêu về con người và hành tinh hiếm khi được đối xử như vậy (Elkington, 2018).

Norman và MacDonald chỉ ra cách một báo cáo ba đường đáy có thể thành khó so sánh: công ty chọn dữ liệu của riêng mình, có thể đổi chỉ số qua các năm vì cho rằng chỉ số mới phù hợp hơn, hoặc có thể để cản việc so sánh. Vì thế khó theo dõi một công ty theo thời gian, và so giữa các công ty thường không thể. Họ tóm khung này là một đường đáy đơn kiểu cũ kèm những cam kết mơ hồ về xã hội và môi trường (Norman và MacDonald, 2004).

## Thay một con số tổng bằng gì?

Hai nguồn trên đều không nêu bảng chỉ số dùng được. Phần dưới là đề xuất của tôi, ghép từ những chỗ vướng họ chỉ ra và từ phép thử Elkington dẫn của Patrick Thomas, cựu giám đốc điều hành Covestro: tiến bộ tối thiểu ở hai chiều trong khi chiều thứ ba không bị ảnh hưởng (Elkington, 2018). Bốn quy tắc:

1. Mỗi chữ P có một chỉ số dẫn, kèm đơn vị và cách tính ghi sẵn. Chỉ số khác chỉ là chỉ số kèm theo.
2. Không cộng ba chữ P. Đây là điều Norman và MacDonald cho là không đứng vững.
3. Giữ nguyên bộ chỉ số ít nhất ba năm; nếu đổi, ghi lý do và số liệu cả hai cách tính.
4. Áp phép thử của Thomas như điều kiện đọc: nếu một chữ P xấu đi, báo cáo ghi dòng đó trước, không để nó chìm trong tổng.

Ví dụ này hoàn toàn giả định; "Công ty V" và mọi con số do tôi dựng, không thuộc về doanh nghiệp nào. Công ty V là xưởng may 80 người.

| Chữ P | Chỉ số dẫn | 2023 | 2024 | Chiều |
|:--|:--|--:|--:|:--|
| Lợi nhuận | Biên lợi nhuận gộp (%) | 22 | 24 | Tốt lên |
| Con người | Tỷ lệ nghỉ việc hằng năm (%) | 28 | 31 | Xấu đi |
| Hành tinh | Điện năng (kWh trên 1.000 sản phẩm) | 95 | 88 | Tốt lên |

Hai chữ P tốt lên, nên nhìn thoáng có vẻ ổn. Nhưng chữ P thứ hai xấu đi, nên theo quy tắc 4 báo cáo phải mở đầu bằng câu: nghỉ việc tăng từ 28% lên 31%, và đây là điều ban giám đốc sẽ làm. Chỉ số kèm theo, như tai nạn lao động hay tỷ lệ vải thừa tái sử dụng, nằm ở dòng dưới, không bù vào chỉ số dẫn. Một "điểm tổng" nằm ngoài đề xuất này, vì quy tắc 2 không cho cộng.

Cách này hợp nếu bạn cần một bảng gọn để điều hành nội bộ và trả lời một khách hàng hay ngân hàng cụ thể. Nó không hợp nếu bên hỏi đã yêu cầu một chuẩn báo cáo nhất định, vì tôi chưa đọc GRI hay chuẩn nào khác, và không hợp nếu bạn định dùng bảng này làm căn cứ cho một tuyên bố gửi người tiêu dùng; với việc đó, xem phần về bằng chứng ở bài tiếp thị.

## Đào sâu: tôi đã đọc gì, và chưa kiểm được gì?

Tôi đọc toàn văn bài của Elkington (2018) trên Harvard Business Review, lấy từ nội dung bài trên trang của tạp chí. Tôi đọc toàn văn Norman và MacDonald qua bản thảo của các tác giả (tháng 3/2003, ghi "in press"); thư viện ghi bài đăng ở Business Ethics Quarterly 14(2), trang 243-262, và phân trang khác bản thảo, nên tôi chỉ diễn đạt lại, không trích số trang. Tôi đọc bài blog của Miller (2020) trên HBS Online; đó là bài giới thiệu khoá học, không hướng dẫn chỉ số nào và không dẫn nghiên cứu cho khẳng định về lợi suất ESG. Tôi chưa đọc sách của Elkington (1997), nguồn gốc ghi trên thẻ thư viện; tôi cũng chưa đọc GRI hay DJSI.

Ba giới hạn. Một, bài của Norman và MacDonald là bản thảo năm 2003; tôi không biết có phương pháp cộng gộp nào xuất hiện sau đó. Hai, bốn quy tắc và bảng chỉ số là đề xuất của tôi, chưa kiểm trên doanh nghiệp thật; chúng ghép phép thử của Thomas (một lời trích gián tiếp từ Elkington) với các phê bình trên. Ba, Công ty V và các số liệu của nó là giả định.

## Câu hỏi thường gặp

### Có cộng ba đường đáy thành một con số được không?

Theo Norman và MacDonald, theo hiểu biết của họ chưa ai đề xuất phương pháp nào để làm việc đó, và họ lập luận rằng giả định có thể làm vậy là không đứng vững (Norman và MacDonald, 2004). Họ nêu thiếu một đơn vị chung cho các điều tốt và xấu của một doanh nghiệp, và nhiều chỉ số là phần trăm, không cộng được. Bài của họ là bản thảo năm 2003, nên tôi không biết có phương pháp nào xuất hiện sau đó.

### Ba đường đáy khác ESG ở đâu?

Một bài blog của HBS Online nói công ty dùng ba đường đáy nội bộ, còn chỉ số ESG là phép đo của bên thứ ba, buộc doanh nghiệp công khai chịu trách nhiệm (Miller, 2020). Elkington mô tả ESG là khung hướng nhà đầu tư và nhà phân tích tài chính vào các yếu tố môi trường, xã hội và quản trị (Elkington, 2018).

### Elkington còn ủng hộ ba đường đáy không?

Ông đề nghị một đợt "thu hồi" khái niệm, và nói nó bị các kế toán viên và tư vấn báo cáo chiếm lấy và pha loãng (Elkington, 2018). Ông vẫn viết rằng công ty của mình tư vấn triển khai khung này và thừa nhận chưa chắc đã đủ (Elkington, 2018).

### Bền vững có làm lợi nhuận tăng không?

Nguồn tôi đọc không chứng minh điều đó. Blog của HBS Online nói, theo khoá học của họ, bằng chứng ngày một nhiều cho thấy công ty có chỉ số ESG tốt có xu hướng sinh lời cao hơn, nhưng không dẫn nghiên cứu cụ thể (Miller, 2020). Thẻ thư viện cũng nhắc đừng khẳng định điều này khi chưa có nguồn thẩm định học thuật.

## Tài liệu tham khảo

- Elkington, J. (2018) *25 years ago I coined the phrase ‘triple bottom line’. Here's why it's time to rethink it*. Harvard Business Review. Available at: https://hbr.org/2018/06/25-years-ago-i-coined-the-phrase-triple-bottom-line-heres-why-im-giving-up-on-it.
- Miller, K. (2020) *The triple bottom line: what it is & why it's important*. Harvard Business School Online, Business Insights blog, 8 December 2020 (updated 16 August 2023). Available at: https://online.hbs.edu/blog/post/what-is-the-triple-bottom-line.
- Norman, W. and MacDonald, C. (2004) ‘Getting to the bottom of "triple bottom line"’, *Business Ethics Quarterly*, 14(2), pp. 243–262. https://doi.org/10.5840/beq200414211

---

Bản HTML chuẩn: https://staging.khoi.co.uk/blog/ba-chu-p-do-gi-ngoai-loi-nhuan
