---
title: "Lãnh đạo chuyển đổi, giao dịch hay phục vụ: chọn thế nào"
description: "So sánh ba cách lãnh đạo qua các meta-analysis: hệ số 0,44 và 0,39 nói gì, phục vụ thêm gì, chỉ đạo hay tham gia khi khủng hoảng. Có bảng dùng thử."
url: "https://staging.khoi.co.uk/blog/chuyen-doi-giao-dich-hay-phuc-vu"
lang: vi
author: "Lê Quốc Khôi"
date: 2026-11-03
updated: 2026-11-03
topics: ["Chiến lược & lãnh đạo"]
tags: ["Phong cách lãnh đạo", "Lãnh đạo chuyển đổi", "Lãnh đạo phục vụ", "Lãnh đạo tình huống", "Lãnh đạo trong khủng hoảng"]
---

# Chuyển đổi, giao dịch hay phục vụ: tuỳ thách thức bạn gặp

## Tóm tắt nhanh

- Judge và Piccolo (2004), 626 tương quan từ 87 nguồn: lãnh đạo chuyển đổi 0,44, thưởng theo kết quả 0,39, và hai kiểu tương quan với nhau 0,80 (Judge và Piccolo, 2004).
- Hoch và cộng sự (2018): lãnh đạo chân thực và đạo đức thêm rất ít ngoài chuyển đổi, lãnh đạo phục vụ có triển vọng hơn; Lee và cộng sự (130 nghiên cứu) báo cáo nó có giá trị dự báo tăng thêm (Hoch et al., 2018; Lee et al., 2020). Tôi chỉ đọc tóm tắt.
- Post và cộng sự (2022), 72 nhóm xử lý khủng hoảng mô phỏng: chỉ đạo cho quyết định chính xác hơn và nhanh hơn khi khủng hoảng quen; tham gia chính xác hơn khi khủng hoảng lạ (Post et al., 2022).
- Lãnh đạo tình huống (Hersey–Blanchard) chưa được kiểm chứng vững: dùng nó như bộ câu hỏi về người theo, không như công thức (Thompson và Vecchio, 2009; Graeff, 1997).

Trong meta-analysis của Judge và Piccolo (2004), lãnh đạo chuyển đổi có hệ số tổng hợp 0,44 với các tiêu chí kết quả, còn thưởng theo kết quả có 0,39, và hai kiểu tương quan với nhau tới 0,80 (Judge và Piccolo, 2004). Giả sử bạn là CEO vừa nhận một đơn vị lỗ ba quý liền. Hai con số nói cả hai cách đều đi cùng kết quả tốt, nhưng không nói đơn vị của bạn cần cách nào trước.

## Ba cách tiếp cận này khác nhau ở đâu?

Chuyển đổi dựa vào truyền cảm hứng, giao dịch dựa vào trao đổi thưởng lấy kết quả, phục vụ dựa vào việc đặt nhu cầu của người theo lên trước. Hai cách đầu được so sánh trong [khung của thư viện](https://staging.khoi.co.uk/framework/transformational-vs-transactional):

> **Hình:** [Lãnh đạo chuyển đổi và lãnh đạo giao dịch](https://staging.khoi.co.uk/framework/transformational-vs-transactional) Chuyển đổi và giao dịch theo khung so sánh trong thư viện của site.

Bài này hiểu "giao dịch" là thưởng theo kết quả, phần có số liệu riêng; quản trị theo ngoại lệ có quan hệ không nhất quán với các tiêu chí nên tôi để ngoài (Judge và Piccolo, 2004). Lee và cộng sự mô tả lãnh đạo phục vụ là người tập trung vào nhu cầu của người theo (Lee et al., 2020). Nhà xuất bản cuốn sách của Greenleaf (1977) mô tả nó là cách thay kiểu độc đoán truyền thống bằng việc phục vụ người khác (Greenleaf, 1977).

[Lãnh đạo tình huống](https://staging.khoi.co.uk/framework/situational-leadership) khác loại: nó chỉnh mức chỉ đạo và hỗ trợ theo năng lực và mức sẵn sàng của từng người, nên tôi dùng nó làm phép chẩn đoán về người theo. Chỉ đạo và tham gia trong nghiên cứu của Post và cộng sự là hành vi được đo, không đồng nghĩa với giao dịch hay phục vụ (Post et al., 2022).

## Bằng chứng tổng hợp so chuyển đổi với giao dịch ra sao?

Chuyển đổi nhỉnh hơn thưởng theo kết quả một chút, và hai kiểu chồng lấn mạnh. Judge và Piccolo gộp 626 tương quan từ 87 nguồn (Judge và Piccolo, 2004):

| Phong cách | Hệ số tổng hợp với các tiêu chí |
|:--|--:|
| Chuyển đổi | 0,44 |
| Thưởng theo kết quả | 0,39 |
| Laissez-faire | -0,37 |
| Quản trị theo ngoại lệ | không nhất quán |

Tóm tắt còn nêu: kết quả của chuyển đổi giữ nguyên ở thiết kế theo dõi dọc và nhiều nguồn; vài tiêu chí có thưởng theo kết quả mạnh hơn; khi kiểm soát các chiều còn lại, cả hai vẫn dự báo tiêu chí, trừ hiệu suất công việc của chính người lãnh đạo, nơi chuyển đổi không dự báo được (Judge và Piccolo, 2004).

## Những con số này cho người quản lý biết gì, và không biết gì?

Chúng cho biết hướng chung, không cho biết nhân quả hay mức áp dụng vào đơn vị của bạn. Có ba giới hạn.

- Chồng lấn. Nếu coi như tương quan thông thường, 0,80 bình phương là khoảng 64% phương sai chung; 0,44 và 0,39 là khoảng 19% và 15% (tính của tôi). Khó tách "truyền cảm hứng" khỏi "thưởng rõ ràng" bằng số liệu này (Judge và Piccolo, 2004).
- Người chấm. Tóm tắt không nói bao nhiêu tương quan do cùng một người chấm cả phong cách lẫn kết quả (Judge và Piccolo, 2004). Rủi ro có thật: trong thí nghiệm của Post và cộng sự, người quan sát độc lập thấy lãnh đạo nhóm tham gia khuyến khích tham gia nhiều hơn (d = 0,64), nhưng thành viên nhóm chấm mức tham gia gần bằng nhau giữa hai điều kiện (3,80 và 3,77 trên thang 5); tác giả nghĩ đến thiên lệch khi trả lời (Post et al., 2022).
- Phạm vi. Phần tôi đọc không nêu ngành, quy mô hay nước. Phần văn hoá xem [Trí tuệ văn hoá cho nhà lãnh đạo](https://staging.khoi.co.uk/blog/tri-tue-van-hoa-nha-lanh-dao).

## Lãnh đạo phục vụ có thêm gì so với chuyển đổi?

Theo hai meta-analysis của hai nhóm tác giả, nó thêm nhiều hơn các biến thể "đạo đức" còn lại, nhưng tôi chỉ đọc tóm tắt. Hoch và cộng sự so lãnh đạo chân thực, đạo đức và phục vụ với chuyển đổi trên chín kết quả: chân thực và đạo đức tương quan cao với chuyển đổi và thêm rất ít phương sai; phục vụ có triển vọng hơn như một cách tiếp cận đứng riêng (Hoch et al., 2018). Lee và cộng sự gộp 130 nghiên cứu độc lập: phục vụ có giá trị dự báo tăng thêm so với chuyển đổi, chân thực và đạo đức, và liên hệ với kết quả được giải thích một phần bằng niềm tin vào lãnh đạo, công bằng thủ tục và quan hệ lãnh đạo và thành viên (Lee et al., 2020).

"Tăng thêm" là khái niệm thống kê: sau khi đã tính điểm chuyển đổi, điểm phục vụ vẫn giải thích thêm một phần. Nó không có nghĩa phục vụ thắng chuyển đổi ở mọi thách thức, và hai tóm tắt không cho kích thước hiệu ứng, nên tôi không biết mức tăng là 1% hay 10%.

## Nhóm xử lý khủng hoảng nên chỉ đạo hay để mọi người tham gia?

Tuỳ khủng hoảng đó quen hay lạ với nhóm. Post và cộng sự (2022) làm thí nghiệm ngẫu nhiên với 72 nhóm ba người, gồm 216 sinh viên đại học ở một học viện quân sự Bỉ và một trường đại học Hà Lan. Mỗi nhóm xử lý bốn kịch bản cháy nổ mô phỏng, hai quen và hai lạ, tối đa 10 phút mỗi kịch bản. Kịch bản lạ có lượng hoá chất lớn bất thường hoặc mất một nguồn lực nhóm đã quen dựa vào (Post et al., 2022).

| Tình huống | Quyết định chính xác hơn | Quyết định nhanh hơn |
|:--|:--|:--|
| Quen | Chỉ đạo (p < 0,001) | Chỉ đạo (p < 0,001) |
| Lạ | Tham gia (p = 0,040) | Không khác biệt có ý nghĩa (p = 0,075) |

Các tác giả kết luận không phong cách nào tốt hơn từ đầu. Họ khuyến nghị đào tạo người lãnh đạo biết chuyển giữa hai cách, và cảnh báo con người hay tin tình huống quen hơn thực tế rồi chỉ đạo máy móc cho tới khi quá muộn. Ở kịch bản lạ, 30,6% nhóm dùng hết 10 phút, so với 4,2% ở kịch bản quen (Post et al., 2022).

Giới hạn do chính tác giả nêu: sinh viên, phần lớn là nam (73%), tình huống mô phỏng, quen và lạ chỉ có hai mức (Post et al., 2022). Mỗi người chỉ được luyện một vai, nên đây không phải nhóm chuyên gia lâu năm.

## Lãnh đạo tình huống của Hersey–Blanchard dùng được đến đâu?

Dùng như bộ câu hỏi về người theo thì hợp lý; dùng như công thức đã kiểm chứng thì không. Khung trong thư viện chia bốn cách theo mức chỉ đạo và hỗ trợ.

> **Hình:** [Lãnh đạo tình huống (Hersey–Blanchard)](https://staging.khoi.co.uk/framework/situational-leadership) Bốn cách của lãnh đạo tình huống theo khung trong thư viện.

Thompson và Vecchio (2009) thử ba phiên bản của lý thuyết trên khảo sát 357 nhân viên ngân hàng và 80 giám sát ở 10 tổ chức tài chính Na Uy. Theo tóm tắt, bản sửa đổi năm 2007 dự báo kém hơn bản gốc; bản thứ ba, dự đoán kết quả phụ thuộc vào mức tự chủ lãnh đạo trao kết hợp với kinh nghiệm của nhân viên, có triển vọng, dù cũng chưa giải thích thêm đáng kể phương sai (Thompson và Vecchio, 2009). Tóm tắt của Graeff (1997) cho rằng mô hình bị thách thức cả về lý thuyết lẫn tính hữu dụng vì thiếu nhất quán, khái niệm mơ hồ và nhiều phiên bản lẫn lộn (Graeff, 1997).

Vì vậy tôi chỉ giữ phần dễ bảo vệ nhất: hỏi về người theo trước khi chọn cách dẫn dắt. Người này đã làm nhiệm vụ này mấy lần, tự tin đến đâu, cần tự chủ bao nhiêu? Đó là bộ câu hỏi của tôi, không nghiên cứu nào tôi đọc kiểm chứng nó.

## Chọn theo thách thức nào: bảng dùng thử

Cột "Điểm xuất phát" là cách đọc của tôi; hai cột còn lại bám các nguồn đã nêu. Hợp nếu bạn dùng bảng để chọn điểm bắt đầu rồi kiểm tra lại sau vài tuần; không hợp nếu cần một câu trả lời cố định cho cả năm.

| Thách thức | Điểm xuất phát | Cần theo dõi | Giới hạn bằng chứng |
|:--|:--|:--|:--|
| Cần đổi hướng, như cứu một đơn vị lỗ | Chuyển đổi, kèm thưởng theo kết quả | Đơn vị có chạy được khi bạn vắng mặt không (khung nêu rủi ro phụ thuộc cá nhân) | Hệ số cao nhất (0,44), nhưng không có nghiên cứu riêng về cứu đơn vị (Judge và Piccolo, 2004) |
| Vận hành ổn định, mục tiêu rõ | Thưởng theo kết quả | Còn đề xuất cải tiến từ dưới lên không (khung nêu rủi ro cứng nhắc) | Vài tiêu chí mạnh hơn chuyển đổi, tóm tắt không nói tiêu chí nào (Judge và Piccolo, 2004) |
| Khủng hoảng đã gặp nhiều lần | Chỉ đạo | Đây có thật là tình huống quen, hay chỉ trông giống | Mô phỏng với sinh viên (Post et al., 2022) |
| Khủng hoảng lần đầu gặp | Tham gia, kèm hạn chót ra quyết định | Đồng hồ: 30,6% nhóm dùng hết 10 phút | Tốc độ không khác biệt có ý nghĩa (Post et al., 2022) |
| Nhóm chuyên gia nhiều kinh nghiệm | Phục vụ, giao quyền | Niềm tin, công bằng thủ tục, quan hệ lãnh đạo và thành viên (Lee et al., 2020) | Chỉ có tóm tắt; không nghiên cứu nào tôi đọc tách riêng nhóm chuyên gia (Hoch et al., 2018) |

## Đào sâu: tôi đã đọc gì, chưa đọc gì, và phê bình ở đâu?

Tôi đọc toàn văn một bài: Post và cộng sự (2022), bản đăng công khai trên kho lưu trữ của Đại học Maastricht. Với Judge và Piccolo, Hoch và Lee, tôi chỉ đọc tóm tắt công khai. Vì vậy bài không có kích thước hiệu ứng của Hoch hay Lee, không biết tiêu chí nào thưởng theo kết quả vượt chuyển đổi, và không biết tỷ lệ tương quan cùng nguồn chấm. Muốn các số đó, hãy đọc toàn văn qua DOI ở danh mục tham khảo.

Trang nhà xuất bản của Thompson và Vecchio không mở được; tôi đọc toàn bộ tóm tắt trên trang danh mục của Mendeley. Với Graeff, tôi đọc tóm tắt trên Academia.edu. Với Greenleaf, tôi chỉ đọc trang nhà xuất bản của ấn bản kỷ niệm 50 năm. Mô tả chuyển đổi và giao dịch lấy từ khung của thư viện.

Về phê bình, Hoch và cộng sự ghi nhận sự chồng lấn khái niệm giữa chuyển đổi và các kiểu lãnh đạo mới hơn (Hoch et al., 2018); theo cách đọc của tôi, hệ số 0,80 giữa chuyển đổi và thưởng theo kết quả là một dạng chồng lấn khác (Judge và Piccolo, 2004). Khung [so sánh các lý thuyết lãnh đạo](https://staging.khoi.co.uk/framework/leadership-theory-comparison) nhắc rằng các dòng lý thuyết không kế tiếp nhau.

## Câu hỏi thường gặp

### Lãnh đạo phục vụ có phải là nhún nhường, không dám quyết?

Mô tả của nhà xuất bản cho ấn bản kỷ niệm 50 năm cuốn sách của Greenleaf nói cách tiếp cận này giúp người lãnh đạo tìm thấy quyền lực và thẩm quyền đạo đức thật của mình, chứ không nói đến việc bỏ quyết định (Greenleaf, 1977). Trong meta-analysis của Lee và cộng sự, điều được đo là mức người lãnh đạo tập trung vào nhu cầu của người theo, và niềm tin, công bằng thủ tục giải thích một phần tác động (Lee et al., 2020). Tôi không thấy trong phần đã đọc phép đo nào về việc người phục vụ quyết nhanh hay chậm.

### Có dùng nhiều cách lãnh đạo trong cùng một đội được không?

Khung so sánh trong thư viện coi chuyển đổi và giao dịch là hai cách bổ sung nhau, không loại trừ nhau, và tóm tắt của Judge và Piccolo cho biết cả hai thường cùng dự báo tiêu chí khi kiểm soát chiều còn lại (Judge và Piccolo, 2004). Post và cộng sự còn khuyến nghị đào tạo người lãnh đạo biết chuyển giữa chỉ đạo và tham gia theo tình huống, kèm cảnh báo rằng họ phải nhìn đúng tình huống trước (Post et al., 2022). Tôi không có nghiên cứu nào cho biết chuyển qua lại bao nhiêu lần thì người theo bắt đầu thấy thiếu nhất quán.

### Laissez-faire có tệ như tên gọi không, và nó có giống giao quyền không?

Trong meta-analysis của Judge và Piccolo, laissez-faire có hệ số -0,37 với các tiêu chí, tức đi ngược chiều với kết quả tốt (Judge và Piccolo, 2004). Tôi chỉ đọc phần tóm tắt nên không biết thang đo định nghĩa nó thế nào, và không khẳng định nó trùng với cách giao quyền (delegating) của lãnh đạo tình huống, vốn dành cho người đã đủ năng lực và tự tin. Giao quyền có chủ đích cho người sẵn sàng và bỏ mặc khi chưa ai theo dõi là hai việc khác nhau; đây là cách phân biệt của tôi, không phải kết quả nghiên cứu.

## Tài liệu tham khảo

- Graeff, C.L. (1997) ‘Evolution of situational leadership theory: a critical review’, *The Leadership Quarterly*, 8(2), pp. 153–170. https://doi.org/10.1016/s1048-9843(97)90014-x
- Greenleaf, R.K. (1977) *Servant leadership: a journey into the nature of legitimate power and greatness*. New York: Paulist Press. Available at: https://www.paulistpress.com/Products/0554-3/servant-leadership-anniversary-edition.aspx.
- Hoch, J.E. et al. (2018) ‘Do ethical, authentic, and servant leadership explain variance above and beyond transformational leadership? A meta-analysis’, *Journal of Management*, 44(2), pp. 501–529. https://doi.org/10.1177/0149206316665461
- Judge, T.A. and Piccolo, R.F. (2004) ‘Transformational and transactional leadership: a meta-analytic test of their relative validity’, *Journal of Applied Psychology*, 89(5), pp. 755–768. https://doi.org/10.1037/0021-9010.89.5.755
- Lee, A. et al. (2020) ‘Servant leadership: a meta-analytic examination of incremental contribution, moderation, and mediation’, *Journal of Occupational and Organizational Psychology*, 93(1), pp. 1–44. https://doi.org/10.1111/joop.12265
- Post, C. et al. (2022) ‘Participative or directive leadership behaviors for decision-making in crisis management teams?’, *Small Group Research*, 53(5), pp. 692–724. https://doi.org/10.1177/10464964221087952
- Thompson, G. and Vecchio, R.P. (2009) ‘Situational leadership theory: a test of three versions’, *The Leadership Quarterly*, 20(5), pp. 837–848. https://doi.org/10.1016/j.leaqua.2009.06.014

---

Bản HTML chuẩn: https://staging.khoi.co.uk/blog/chuyen-doi-giao-dich-hay-phuc-vu
