---
title: "Cổ đông hay các bên liên quan: Friedman, Freeman, Heath"
description: "Quản lý nợ ai trước khi tiết kiệm đi ngược an toàn? Ba câu trả lời của Friedman, Freeman và Heath, thử trên vụ BP Deepwater Horizon theo báo cáo uỷ ban Mỹ."
url: "https://staging.khoi.co.uk/blog/co-dong-hay-ben-lien-quan"
lang: vi
author: "Lê Quốc Khôi"
date: 2026-11-03
updated: 2026-11-03
topics: ["Đạo đức & quản trị công ty"]
tags: ["Cổ đông và các bên liên quan", "Đạo đức kinh doanh", "An toàn lao động", "Quản trị công ty"]
---

# Cổ đông hay các bên liên quan: ba câu trả lời cho người quản lý

## Tóm tắt nhanh

- Ba câu trả lời cho "người quản lý nợ ai trước": Friedman (1970) nói chủ sở hữu, trong luật chơi gồm luật pháp, tập quán đạo đức và không lừa dối (Friedman, 1970); Freeman (1984) nói mọi nhóm bị công ty ảnh hưởng (Freeman, 1984); Heath (2014) nói tối đa hoá lợi nhuận nhưng không khai thác thất bại thị trường (Heath, 2014).
- Vụ Deepwater Horizon (2010): 11 người chết; uỷ ban quốc gia của Mỹ truy phần lớn sai sót về một thất bại quản lý, và bằng chứng hiện có không cho thấy nhiều quyết định tiết kiệm thời gian và tiền đã qua phân tích rủi ro chính thức (National Commission on the BP Deepwater Horizon Oil Spill and Offshore Drilling, 2011, p. 90, 125).
- Uỷ ban không thể nói có ai cố ý chọn phương án rủi ro hơn vì rẻ hơn (National Commission on the BP Deepwater Horizon Oil Spill and Offshore Drilling, 2011, p. 125). Bài này không kết luận thay họ.
- Cả ba lăng kính cùng đòi một việc trong ca này: chứng minh trước rằng phương án rẻ hơn an toàn tương đương. Chúng khác ở lý do và ở người cân quyền xung đột.
- Phần đặt ba lăng kính lên vụ BP là suy luận của tôi, không phải điều các tác giả viết về BP.

Ngày 20/4/2010, giàn khoan Deepwater Horizon ở vịnh Mexico nổ, 11 người chết (National Commission on the BP Deepwater Horizon Oil Spill and Offshore Drilling, 2011, p. vi). Uỷ ban quốc gia điều tra sau đó viết rằng nhiều quyết định làm tăng rủi ro đã tiết kiệm đáng kể thời gian và tiền, và đội Macondo của BP dường như không có hệ thống chính thức nào chứng minh phương án thay thế an toàn tương đương (National Commission on the BP Deepwater Horizon Oil Spill and Offshore Drilling, 2011, p. 125). Câu hỏi cho người quản lý: khi tiết kiệm đi ngược an toàn, bạn nợ ai trước, cổ đông hay mọi người bị ảnh hưởng?

## Ba câu trả lời khác nhau ở đâu?

Khung [Cổ đông và các bên liên quan](https://staging.khoi.co.uk/framework/shareholder-vs-stakeholder) của thư viện đặt chúng cạnh nhau. Bảng dưới là bản của thư viện, tôi chưa thêm gì.

> **Hình:** [Cổ đông và các bên liên quan](https://staging.khoi.co.uk/framework/shareholder-vs-stakeholder) Ba câu trả lời về việc người quản lý nợ ai, theo khung trong thư viện.

## Friedman nói gì, kể cả những phần dễ bị bỏ qua?

Friedman (1970) lập luận từ quan hệ uỷ nhiệm. Người quản lý là đại diện của chủ sở hữu, có trách nhiệm trực tiếp là điều hành công ty theo ý họ, thường là kiếm nhiều tiền nhất có thể, trong khuôn khổ quy tắc cơ bản của xã hội, cả luật pháp lẫn tập quán đạo đức (Friedman, 1970). Nếu quản lý tự ý tiêu tiền cho mục tiêu xã hội, ông viết, người đó đang tiêu tiền của cổ đông, khách hàng hay nhân viên, và làm việc của chính phủ là đánh thuế rồi chi tiêu (Friedman, 1970).

Ba điều dễ bị bỏ qua, theo tôi thấy. Thứ nhất, ông không cấm hành vi gọi là có trách nhiệm xã hội nếu nó phục vụ lợi ích dài hạn của công ty. Ông lấy ví dụ doanh nghiệp lớn trong một thị trấn nhỏ chi cho tiện ích địa phương để thu hút nhân viên, và coi đó là chi tiêu chính đáng về kinh doanh. Ông nhận xét rằng "trách nhiệm xã hội" trên thực tế thường chỉ là chiếc áo choàng cho hành vi vốn đã có lý do khác (Friedman, 1970). Thứ hai, ông tách riêng chủ sở hữu cá nhân, người tiêu tiền của mình (Friedman, 1970). Thứ ba, câu kết của ông đặt điều kiện, là lợi nhuận đi cùng cạnh tranh mở và tự do, không lừa dối hay gian lận (Friedman, 1970).

Điểm yếu mà khung của thư viện ghi: lập luận này bỏ qua quyền của người khác khi luật yếu.

## Freeman đổi câu hỏi thế nào?

Theo cách tôi diễn đạt, Freeman (1984) đổi câu hỏi từ "công ty thuộc về ai" sang "ai bị công ty chạm vào". Khái niệm [thuyết các bên liên quan](https://staging.khoi.co.uk/thuat-ngu#stakeholder-theory) trong thư viện, lấy từ Freeman, tóm: người quản lý phải cân bằng quyền và lợi ích của mọi nhóm bị công ty ảnh hưởng, không chỉ cổ đông (Freeman, 1984).

Khung của thư viện nêu lý do chính là quyền của mỗi nhóm không bị coi chỉ là phương tiện. Điểm yếu cũng do khung nêu: người quản lý có thể viện "bên liên quan" để thoát trách nhiệm giải trình. Nếu cân nhắc mọi nhóm mà không ai chấm điểm, lựa chọn nào cũng biện hộ được.

## Heath đứng ở đâu giữa hai bên?

Theo khung của thư viện, Heath (2014) vẫn đặt mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận nhưng cấm khai thác [thất bại thị trường](https://staging.khoi.co.uk/thuat-ngu#market-failure). Khái niệm trong thư viện liệt kê: thiếu cạnh tranh, thông tin bất đối xứng, ngoại tác và hàng hoá công. Cũng theo khung, thể chế phân công: thị trường làm to chiếc bánh, nhà nước phân phối, và người quản lý chỉ không được kiếm lời từ chỗ thị trường hỏng (Heath, 2014). [Ngoại tác](https://staging.khoi.co.uk/thuat-ngu#externality) là chi phí rơi vào bên thứ ba không tham gia giao dịch. Chi tiết lập luận này nằm ở bài [quảng cáo gây hiểu lầm làm hỏng thị trường](https://staging.khoi.co.uk/blog/quang-cao-hieu-lam-hong-thi-truong), nên ở đây tôi chỉ dùng nó như một lăng kính.

Điểm yếu mà khung ghi là bị phản biện "tối ưu thứ hai" (Heath, 2014); tôi chưa đọc sách của Heath nên không trình bày phản biện đó chi tiết. Bài [khi nào lợi nhuận là chính đáng](https://staging.khoi.co.uk/blog/khi-nao-loi-nhuan-chinh-dang) đi sâu hơn vào tiếp cận thất bại thị trường.

## Báo cáo về Macondo ghi nhận gì?

Bốn ý đầu là những gì uỷ ban viết, kèm trang trong báo cáo; ý cuối lấy từ Bộ Tư pháp.

- Bằng chứng hiện có không cho thấy nhiều quyết định đã qua phân tích rủi ro chính thức. Uỷ ban viết rằng quá trình ra quyết định ở Macondo không bảo đảm nhân sự cân nhắc đầy đủ rủi ro của các quyết định tiết kiệm thời gian và tiền. Dù có chủ ý hay không, nhiều quyết định làm tăng rủi ro đã tiết kiệm đáng kể thời gian và tiền cho các công ty (National Commission on the BP Deepwater Horizon Oil Spill and Offshore Drilling, 2011, p. 125).
- Chọn phương án rẻ hơn không sai về bản chất, miễn là chứng minh được nó an toàn tương đương. Vấn đề là đội Macondo của BP dường như không có hệ thống chính thức để kiểm điều đó (National Commission on the BP Deepwater Horizon Oil Spill and Offshore Drilling, 2011, p. 125).
- Uỷ ban không thể nói ai đó có cố ý chọn phương án rủi ro hơn vì rẻ hơn hay không (National Commission on the BP Deepwater Horizon Oil Spill and Offshore Drilling, 2011, p. 125).
- Họ gọi nguyên nhân gốc là có tính hệ thống, không phải quyết định bất thường của vài cá nhân, và truy phần lớn sai sót về một thất bại quản lý, cùng với thất bại giám sát của chính phủ (National Commission on the BP Deepwater Horizon Oil Spill and Offshore Drilling, 2011, p. 90, 122).
- Hậu quả: BP phải chi hàng chục tỷ đô la (National Commission on the BP Deepwater Horizon Oil Spill and Offshore Drilling, 2011, p. 89), và theo thông cáo ngày 15/11/2012 của Bộ Tư pháp Mỹ, BP (qua công ty con BP Exploration and Production Inc.) đồng ý nhận tội với 14 tội danh hình sự, trong đó 11 tội ngộ sát, kèm 4 tỷ đô la tiền phạt và các khoản phạt hình sự (US Department of Justice, 2012).

## Đặt ba lăng kính lên ca này thì thấy gì?

Phần này là suy luận của tôi. Các tác giả không viết về BP.

| Lăng kính | Câu hỏi họ đặt lên quyết định tiết kiệm | Việc cần làm |
|:--|:--|:--|
| Friedman | Chủ sở hữu có muốn rủi ro này nếu thấy toàn cảnh không, và quyết định có nằm trong luật và tập quán đạo đức không? | Thẩm định để biết quyết định có phạm luật hay giấu rủi ro không |
| Freeman | Người chịu rủi ro, như thợ trên giàn và cộng đồng ven biển, có được cân nhắc trong quyết định không? | Có chỗ cho mối lo của họ trước khi chốt |
| Heath | Khoản tiết kiệm có dựa vào việc đẩy chi phí cho bên thứ ba không? | Không kiếm lời từ chi phí không ai trả giá |

Ba cột "việc cần làm" gặp nhau ở điều uỷ ban đòi: khi thay đổi quy trình phải có ít nhất một dạng phân tích rủi ro chính thức, nếu không đủ thời gian thì chỉ xét phương án đã được chứng minh, và doanh nghiệp cần chính sách chặt đòi phân tích kỹ cùng bằng chứng rằng phương án rẻ hơn an toàn tương đương (National Commission on the BP Deepwater Horizon Oil Spill and Offshore Drilling, 2011, p. 126). Cả ba lăng kính ủng hộ biện pháp đó, mỗi lăng kính vì một lý do khác. Ở Friedman, nó bảo vệ chủ sở hữu khỏi rủi ro họ không biết. Ở Freeman, nó trả lại tiếng nói cho nhóm bị ảnh hưởng. Ở Heath, nó chặn việc đẩy chi phí ra ngoài.

Chúng khác nhau khi luật im lặng. Friedman dừng ở luật và tập quán, còn Freeman và Heath hỏi tiếp về người không có mặt. Chúng cũng khác ở người cân quyền xung đột: chính phủ dân chủ (Friedman), người quản lý khi nhà nước thất bại (Freeman), hay thể chế phân công giữa thị trường và nhà nước (Heath).

## Ba câu hỏi người quản lý nên đặt trước khi chốt

Đây là bộ câu hỏi của tôi, ghép từ ba lăng kính, chưa qua thử nghiệm nào.

1. Ai chịu thiệt nếu tôi sai, và họ có tiếng nói trong cuộc họp này không?
2. Luật hay chuẩn nào đã ràng buộc quyết định này, và ai đã kiểm tra rằng phương án rẻ hơn vẫn nằm trong đó?
3. Khoản tiết kiệm có phụ thuộc vào việc bên ngoài giao dịch gánh một chi phí mà tôi không trả không?

Nếu cả ba chưa có câu trả lời, theo ca Macondo, nên làm điều uỷ ban đòi: phân tích kỹ và chứng minh phương án rẻ hơn an toàn tương đương trước khi đổi.

## Đào sâu: tôi đã đọc gì, và phê bình nào còn thiếu?

Friedman (1970) tôi đọc toàn văn từ một bản đăng lại của bài trên *New York Times Magazine*; bản đó không có số trang của tạp chí, nên tôi chỉ diễn đạt lại, không trích nguyên văn có trang (Friedman, 1970). Freeman (1984) và Heath (2014) là sách; tôi chưa đọc. Phần về Freeman dựa trên khái niệm trong thư viện, phần về Heath và các điểm yếu dựa trên khung của thư viện (Freeman, 1984; Heath, 2014). Vì thế bài không phê bình sâu hai cuốn sách; các điểm yếu nêu ở trên là điểm yếu mà khung của thư viện ghi.

Báo cáo của uỷ ban rất dài; tôi đọc lời tựa và các đoạn ở trang vi, 89 đến 90, 122 đến 126, 167 và chú thích ở trang 346, chưa đọc phần còn lại. Hơn 4 triệu thùng dầu tràn là ước tính của chính phủ (khoảng 4,9 triệu thùng), và BP phản đối các con số đó trong một chú thích của báo cáo (National Commission on the BP Deepwater Horizon Oil Spill and Offshore Drilling, 2011, p. 167, 346). Trang của Bộ Tư pháp chặn truy cập tự động; tôi đối chiếu nội dung bản tin qua một bản đăng lại (US Department of Justice, 2012). Cũng cần nhớ rằng báo cáo của uỷ ban và tội danh của BP là hai loại bằng chứng khác nhau: một bên là điều tra, một bên là thoả thuận nhận tội.

## Câu hỏi thường gặp

### Friedman có cho phép doanh nghiệp bỏ qua an toàn để tăng lợi nhuận không?

Không, theo suy luận của tôi, vì Friedman không bàn riêng về an toàn. Trong bài năm 1970, ông viết rằng người quản lý làm theo ý muốn của chủ sở hữu, thường là kiếm nhiều tiền nhất có thể, nhưng trong khuôn khổ quy tắc cơ bản của xã hội, gồm cả luật pháp lẫn tập quán đạo đức. Câu kết nói lợi nhuận phải đi cùng cạnh tranh mở và tự do, không lừa dối hay gian lận (Friedman, 1970). Cắt an toàn để phạm luật hay giấu rủi ro nằm ngoài khuôn khổ đó.

### Thuyết các bên liên quan có nghĩa là người quản lý phải chiều mọi nhóm không?

Không. Theo khái niệm thuyết các bên liên quan trong thư viện, người quản lý phải cân bằng quyền và lợi ích của mọi nhóm bị công ty ảnh hưởng, không chỉ cổ đông (Freeman, 1984). Điểm yếu mà khung của thư viện nêu là người quản lý có thể viện "bên liên quan" để né trách nhiệm giải trình. Cân bằng khác với chiều theo.

### Chủ doanh nghiệp nhỏ có nợ cổ đông không?

Friedman tách riêng trường hợp chủ sở hữu cá nhân, không có cổ đông ngoài. Ông viết rằng người này chi tiền của chính mình nên ông không thấy phản đối nào nếu họ muốn chi cho mục đích xã hội (Friedman, 1970). Nhưng rủi ro an toàn của công nhân và luật hiện hành không biến mất vì chủ doanh nghiệp là chủ sở hữu. Điểm này là suy luận của tôi.

### BP có chủ ý đánh đổi an toàn lấy tiền không?

Uỷ ban quốc gia nói rõ họ không thể kết luận điều đó. Họ không thể nói có ai tại BP hay công ty khác cố ý chọn phương án rủi ro hơn vì rẻ hơn. Họ viết rằng nhiều quyết định tăng rủi ro đã tiết kiệm đáng kể thời gian và tiền, và đội Macondo của BP dường như không có hệ thống chính thức để chứng minh phương án thay thế an toàn tương đương (National Commission on the BP Deepwater Horizon Oil Spill and Offshore Drilling, 2011, p. 125).

## Tài liệu tham khảo

- Freeman, R.E. (1984) *Strategic management: a stakeholder approach*. Boston: Pitman. https://doi.org/10.1017/CBO9781139192675
- Friedman, M. (1970) *The social responsibility of business is to increase its profits*. The New York Times Magazine. Available at: https://www.nytimes.com/1970/09/13/archives/a-friedman-doctrine-the-social-responsibility-of-business-is-to.html.
- Heath, J. (2014) *Morality, competition, and the firm: the market failures approach to business ethics*. New York: Oxford University Press. https://doi.org/10.1093/acprof:osobl/9780199990481.001.0001
- National Commission on the BP Deepwater Horizon Oil Spill and Offshore Drilling (2011) *Deep water: the Gulf oil disaster and the future of offshore drilling (Report to the President)*. Washington, DC: US Government Publishing Office. Available at: https://www.govinfo.gov/content/pkg/GPO-OILCOMMISSION/pdf/GPO-OILCOMMISSION.pdf.
- US Department of Justice (2012) *BP Exploration and Production Inc. agrees to plead guilty to felony manslaughter, environmental crimes and obstruction of Congress surrounding Deepwater Horizon incident (press release, 15 November)*. Available at: https://www.justice.gov/archives/opa/pr/bp-exploration-and-production-inc-agrees-plead-guilty-felony-manslaughter-environmental.

---

Bản HTML chuẩn: https://staging.khoi.co.uk/blog/co-dong-hay-ben-lien-quan
