---
title: "Số hoá ngành thời trang: nghiên cứu nói gì, bỏ sót gì"
description: "Hai tổng quan mở về số hoá thời trang đếm gì và bỏ sót gì, cộng việc ESPR của EU đặt lên chủ thương hiệu và xưởng may nhỏ. Tính đến 3/11/2026."
url: "https://staging.khoi.co.uk/blog/so-hoa-nganh-thoi-trang-ban-do-nghien-cuu"
lang: vi
author: "Lê Quốc Khôi"
date: 2026-11-03
updated: 2026-11-03
topics: ["Chuỗi cung ứng & vận hành"]
tags: ["Chuyển đổi số", "Ngành thời trang", "Tổng quan nghiên cứu", "Hộ chiếu sản phẩm số", "ESPR của EU"]
---

# Số hoá ngành thời trang: hai tổng quan nghiên cứu đếm gì và bỏ sót gì?

## Tóm tắt nhanh

- Hai tổng quan truy cập mở đếm chủ đề và phương pháp, không đo hiệu quả: Sarker và Bartok (2024) giữ 46 bài trong 518 bản ghi (Sarker và Bartok, 2024, pp. 1, 6); Nam và Kim (2025) phân tích 249 bài trên tạp chí Hàn Quốc (Nam và Kim, 2025, Methods). Chính Sarker và Bartok liệt kê hiệu quả của từng công nghệ là khoảng trống (Sarker và Bartok, 2024, p. 17).
- Ba tổng quan cho ba con số: 46, 249 và 224 bài, số thứ ba lấy từ tóm tắt của Liu và Liu (2025) (Liu và Liu, 2025). Hai bài đầu tìm bằng từ khoá và phạm vi riêng, truy vấn của bài thứ ba tôi không biết, nên không đọc chúng như đà tăng của một ngành.
- Trong mẫu Hàn Quốc, từ khoá AI chọn được 23 trong 316 bài; thương mại điện tử 79, nền tảng 52, metaverse 46 (Nam và Kim, 2025, Methods).
- Luật EU cụ thể hơn nghiên cứu: Quy định (EU) 2024/1781 về thiết kế sinh thái cho sản phẩm bền vững (ESPR) đòi hộ chiếu sản phẩm số cho nhóm hàng có quy định uỷ quyền (European Parliament and Council of the European Union, 2024, Art. 9(1)); kế hoạch của Uỷ ban ghi hàng dệt may dự kiến thông qua năm 2027 (European Commission, 2025).
- Từ 19/7/2026, Điều 25 cấm huỷ hàng tiêu dùng chưa bán thuộc Phụ lục VII, trừ doanh nghiệp vi mô và nhỏ; doanh nghiệp vừa từ 19/7/2030 (European Parliament and Council of the European Union, 2024, Art. 25(1)). Phụ lục VII liệt kê quần áo, phụ kiện quần áo và giày dép (European Parliament and Council of the European Union, 2024, Annex VII); đoạn dẫn nhập (57) nêu lý do (European Parliament and Council of the European Union, 2024, Recital 57).

Một tổng quan đếm 224 bài báo về số hoá ngành thời trang giai đoạn 2011–2024 (Liu và Liu, 2025). Một tổng quan khác giữ 46 bài, bài thứ ba giữ 249. Cả ba nói về cùng một ngành, vậy con số nào cho biết nghiên cứu đã đi được bao xa?

Bài này dành cho chủ thương hiệu hoặc xưởng may nhỏ đang nghe chào bán 3D, RFID (nhận dạng bằng sóng vô tuyến), AI hay metaverse. Tôi đọc phần văn bản của hai tổng quan mở, đặt cạnh ba văn bản chính thức của EU; bài của Liu và Liu tôi chỉ đọc được tóm tắt. Mọi thông tin tính đến 3/11/2026.

## Hai tổng quan mở đếm được gì?

Chủ đề, phương pháp và số bài theo năm; không đo hiệu quả của công nghệ. Bảng đặt hai bài cạnh nhau, kèm bài của Liu và Liu ở mức tóm tắt.

> **Hình:** (compare) Bảng do tôi tổng hợp từ văn bản ba bài; hàng "Không nói được" là nhận định của tôi sau khi đọc.

```json
{
  "type": "compare",
  "columns": ["Sarker và Bartok (2024)", "Nam và Kim (2025)", "Liu và Liu (2025), chỉ tóm tắt"],
  "rows": [
    { "label": "Câu hỏi", "cells": ["Yếu tố nào của chuyển đổi xanh và chuyển đổi số xuất hiện trong nghiên cứu về ngành thời trang?", "Nghiên cứu số hoá thời trang ở Hàn Quốc đổi thế nào qua ba giai đoạn, theo năm yếu tố: mô hình kinh doanh, quy trình, dịch vụ, sản phẩm, khách hàng?", "Cập nhật bức tranh nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu"] },
    { "label": "Cách tìm", "cells": ["Scopus, Web of Science, ScienceDirect, Google Scholar; cụm \"green transition\" hoặc \"digital transition\" với \"fashion industry\" hoặc \"textile industry\"; tìm lần cuối 18/3/2023", "Chỉ tạp chí trong Korea Citation Index; mười từ khoá chọn sau khi quét tin Naver từ 11/2022 đến 11/2023", "Không biết ngoài tóm tắt"] },
    { "label": "Mẫu", "cells": ["518 bản ghi, còn 46 bài (2012–2022)", "316 bài theo từ khoá; 249 bài sau khi phân loại năm yếu tố (2014–2023)", "224 bài (2011–2024)"] },
    { "label": "Kết quả nêu", "cells": ["Tám yếu tố số: IoT (Internet vạn vật), AI, robot, in 3D, blockchain, AR (thực tế tăng cường), mạng xã hội, bán hàng online", "Khách hàng 132 bài, dịch vụ 58, sản phẩm 29, mô hình kinh doanh 15, quy trình 15; đỉnh năm 2022", "Ba cụm trí tuệ, sáu cụm từ khoá; tóm tắt nêu các trọng tâm như bền vững, trải nghiệm hạng sang có AI, gắn kết khách trong bán lẻ số"] },
    { "label": "Không nói được", "cells": ["Phần chữ tôi đọc không nêu mức tác động đo được của công nghệ nào", "Chỉ dùng tiêu đề, tóm tắt, từ khoá; chỉ tạp chí Hàn Quốc; tôi không mở 14 bảng", "Tôi không đọc quá tóm tắt"] }
  ]
}
```

Sarker và Bartok đọc tiêu đề và tóm tắt của 473 bản ghi đã sàng, loại 391, chọn 82 để xét, rồi giữ 46 bài (Sarker và Bartok, 2024, pp. 1, 6). Các số 2,17%, 6,52%, 8,69%, 10,86%, 28,26% và 43,47%, mà bài gọi là tốc độ tăng theo năm từ 2017 đến 2022 (Sarker và Bartok, 2024, p. 8), cộng lại gần 100%, nên chúng là tỷ trọng trong 46 bài. Quy ra số bài là 1, 3, 4, 5, 13 và 20 (phép tính của tôi), khớp với câu "2022 có 20 bài" của chính bài. Trong mẫu này, số bài tăng, từ một nền rất nhỏ.

Nam và Kim chọn mẫu bằng mười từ khoá: thương mại điện tử 79 bài, nền tảng 52, metaverse 46, trò chơi 39, thực tế ảo 28, dữ liệu lớn 25, AI 23, ứng dụng di động 14, chatbot 8, điện toán đám mây 2, tổng 316 bài; sau khi hai chuyên gia phân loại còn 249 bài (Nam và Kim, 2025, Methods). Số bài theo năm lên đỉnh năm 2022 với 74 bài, năm 2023 còn 59 (Nam và Kim, 2025, Results). Họ ghi 159 bài định tính so với 121 bài định lượng (Nam và Kim, 2025, Results).

## Vì sao ba tổng quan cho ba con số?

Vì mỗi bài hỏi và tìm khác nhau, nên các số không cộng được cũng không so được. Sarker và Bartok bắt buộc cụm "transition" cùng "fashion" hoặc "textile", và tự nhận từ khoá có thể rộng hơn (Sarker và Bartok, 2024, p. 16). Nam và Kim chỉ lấy tạp chí Hàn Quốc, và mười từ khoá chọn mẫu đến từ tin báo của đúng một năm (Nam và Kim, 2025, Methods). Liu và Liu đếm 224 bài báo, nhưng tôi không biết truy vấn của họ (Liu và Liu, 2025).

Hệ quả: thứ hạng chủ đề trong một tổng quan phản ánh danh sách từ khoá của chính nó. Trong mẫu Hàn Quốc, "metaverse" và "chatbot" có mặt vì báo Hàn nhắc chúng nhiều; "RFID", "3D" và "blockchain" không nằm trong mười từ khoá chọn mẫu, dù RFID và 3D vẫn xuất hiện trong từ khoá nhóm quy trình (Nam và Kim, 2025, Results). Tôi suy ra một nghiên cứu chỉ nói về RFID có thể đã không vào mẫu; đó là suy luận của tôi, chưa kiểm.

## Hai tổng quan nói gì về hiệu quả của từng công nghệ?

Trong phần tôi đọc, gần như không có. Kết luận của Sarker và Bartok nói các công nghệ số đang được dùng "to optimise production efficiency, decrease costs, and raise product quality" (Sarker và Bartok, 2024, p. 16), nhưng đó là tóm lược từ các bài họ trích, không kèm số đo của họ. Nhận định in 3D khiến việc làm mẫu vật lý "obsolete" cũng đi kèm trích dẫn bài khác (Sarker và Bartok, 2024, p. 15).

Chính họ liệt kê tám khoảng trống, ba trong số đó chạm thẳng câu hỏi của chủ doanh nghiệp: cần định lượng lợi ích môi trường (Sarker và Bartok, 2024, p. 16); cần nghiên cứu thực nghiệm ở cấp doanh nghiệp, kết hợp ý kiến chuyên gia và khảo sát (Sarker và Bartok, 2024, p. 16); còn thiếu nghiên cứu về hiệu quả của từng công nghệ như blockchain cho chuỗi cung ứng, in 3D cho sản xuất, thực tế ảo cho bán lẻ (Sarker và Bartok, 2024, p. 17).

Nam và Kim đo thứ khác: từ khoá nào đứng cạnh từ khoá nào trong tiêu đề, tóm tắt và từ khoá, rồi đọc mức "trung tâm" của từ khoá là độ ảnh hưởng của chủ đề (Nam và Kim, 2025, Results). Đó là thước đo của sự chú ý, không phải của lợi nhuận hay chi phí. Muốn thấy một số đo hiệu quả trông thế nào khi thiếu mốc so sánh, xem [con số +24% của Burberry](https://staging.khoi.co.uk/blog/burberry-cong-nghe-xoay-chuyen); muốn thấy một công ty tự đánh giá RFID, xem [tồn kho thống nhất của Inditex](https://staging.khoi.co.uk/blog/omnichannel-ton-kho-thong-nhat).

## Doanh nghiệp nhỏ và Việt Nam nằm ở đâu trong bản đồ này?

Gần như ngoài bản đồ. Trong 23 nước xuất xứ tác giả của 46 bài, Trung Quốc có 7 bài, Ý 6, Anh 4, Ấn Độ 4, và không có tên Việt Nam (Sarker và Bartok, 2024, p. 9). Bài nhắc Việt Nam một lần, trong câu về xu hướng áp dụng ở Ấn Độ, Bangladesh, Việt Nam và Ethiopia, dẫn hai nguồn khác (Sarker và Bartok, 2024, p. 4). Nam và Kim chỉ xét Hàn Quốc và tự ghi giới hạn đó (Nam và Kim, 2025, Limitations). Không bài nào tôi đọc đo doanh nghiệp nhỏ, và tôi chưa tìm tài liệu tiếng Việt.

## Luật EU đặt việc gì mà nghiên cứu không đặt?

Một hạn chót và một loại dữ liệu phải ghi, không phụ thuộc nghiên cứu hiệu quả. Quy định (EU) 2024/1781 về thiết kế sinh thái cho sản phẩm bền vững (ESPR) nói sản phẩm thuộc một quy định uỷ quyền chỉ được đưa ra thị trường nếu có hộ chiếu sản phẩm số theo quy định đó (European Parliament and Council of the European Union, 2024, Art. 9(1)); Uỷ ban có thể miễn một nhóm hàng khỏi yêu cầu này (European Parliament and Council of the European Union, 2024, Art. 9(4)). Kế hoạch làm việc 2025–2030 của Uỷ ban đặt hàng dệt may, riêng may mặc, đứng đầu trong bốn sản phẩm cuối do Trung tâm Nghiên cứu Chung (JRC) của Uỷ ban xếp hạng, với mốc thông qua dự kiến 2027; giày để riêng, chờ một nghiên cứu xong cuối 2027 (European Commission, 2025, sections 2.2.1, 2.2.3).

Theo văn bản, hộ chiếu số là một bản ghi gắn qua vật mang dữ liệu với mã định danh sản phẩm duy nhất và lâu dài (European Parliament and Council of the European Union, 2024, Art. 10(1)). Quy định uỷ quyền cho từng nhóm hàng sẽ chọn dữ liệu, vật mang, và cấp độ là mẫu, lô hay từng món (European Parliament and Council of the European Union, 2024, Art. 9(2)). Nhà sản xuất phải bảo đảm hộ chiếu có sẵn (European Parliament and Council of the European Union, 2024, Art. 27(1)), nhà nhập khẩu cũng vậy (European Parliament and Council of the European Union, 2024, Art. 29(2)). Kế hoạch làm việc nói hàng nhập khẩu vào EU cũng phải đạt chuẩn mới (European Commission, 2025, section 3.1) và hộ chiếu sẽ gồm thành phần vật liệu và chất đáng lo ngại (European Commission, 2025, section 3.2). Đoạn dẫn nhập (33) nói khi hộ chiếu dựa trên chuẩn phải trả tiền, đánh giá tác động cần xét việc dựa vào chuẩn đó có phù hợp không, và cách tránh chi phí quá mức cho doanh nghiệp vi mô, nhỏ và vừa (European Parliament and Council of the European Union, 2024, Recital 33).

Phần huỷ hàng chưa bán đã có hiệu lực. Từ 19/7/2026, Điều 25(1) cấm huỷ các sản phẩm tiêu dùng chưa bán liệt kê ở Phụ lục VII, trừ doanh nghiệp vi mô và nhỏ; doanh nghiệp vừa từ 19/7/2030 (European Parliament and Council of the European Union, 2024, Art. 25(1)). Phụ lục VII liệt kê quần áo, phụ kiện quần áo và giày dép theo mã hàng hoá (European Parliament and Council of the European Union, 2024, Annex VII); đoạn dẫn nhập (57) nêu lý do (European Parliament and Council of the European Union, 2024, Recital 57). "Huỷ" gồm cả tái chế, thu hồi khác và thải bỏ; chuẩn bị tái sử dụng thì không tính là huỷ (European Parliament and Council of the European Union, 2024, Recital 55). Điều 24 đòi công bố mỗi năm số lượng và khối lượng hàng chưa bán bị thải, lý do và đích đến, cũng trừ doanh nghiệp vi mô và nhỏ, còn doanh nghiệp vừa từ 19/7/2030 (European Parliament and Council of the European Union, 2024, Art. 24(1)).

Quy định uỷ quyền (EU) 2026/296, áp dụng từ 19/7/2026, mở mười ngoại lệ, như hàng nguy hiểm, hàng vi phạm sở hữu trí tuệ hay hàng hỏng không sửa được; doanh nghiệp phải giữ hồ sơ chứng minh năm năm (European Commission, 2026, Arts. 2–3). Nếu có đủ bằng chứng rằng doanh nghiệp vi mô và nhỏ có thể bị dùng để lách luật, Uỷ ban có thể mở rộng lệnh cấm và nghĩa vụ công bố sang nhóm này (European Parliament and Council of the European Union, 2024, Art. 25(5)).

Điểm tôi giữ lại: hộ chiếu số và công bố hàng chưa bán đều đòi dữ liệu (mã, lô, thành phần, số hàng tồn, nơi hàng đi), không đòi một công nghệ gắn nhãn cụ thể nào, ít nhất trong phần văn bản tôi đọc. Đó là suy luận của tôi.

## Chủ thương hiệu nhỏ nên dùng các nguồn này thế nào?

Dùng chúng để chọn câu hỏi, không để chọn công nghệ. Giả sử (giả định do tôi bịa) bạn điều hành xưởng may 30 người ở Bình Dương, bán áo thun qua một nhà nhập khẩu ở Đức. Cột cuối bảng là suy luận của tôi, không phải khuyến nghị của tác giả hay của Uỷ ban.

| Câu hỏi | Chỗ dựa | Việc tôi sẽ làm |
|:--|:--|:--|
| Công nghệ này có số đo trước và sau ở doanh nghiệp cỡ tôi không? | Hiệu quả từng công nghệ là khoảng trống đã nêu (Sarker và Bartok, 2024, p. 17) | Xin số đo và mốc so sánh từ bên bán; không có thì thử nhỏ, có nhóm đối chứng |
| Nhà nhập khẩu cần dữ liệu gì, khi nào? | Nhà sản xuất và nhà nhập khẩu cùng phải bảo đảm hộ chiếu (European Parliament and Council of the European Union, 2024, Art. 27(1); European Parliament and Council of the European Union, 2024, Art. 29(2)) | Hỏi thẳng họ; danh sách dữ liệu cho may mặc chưa có |
| Mỗi mẫu và lô có một mã bền, và hàng tồn đi đâu? | Hộ chiếu gắn mã định danh duy nhất; Điều 24 đòi số lượng, khối lượng, đích đến (European Parliament and Council of the European Union, 2024, Art. 10(1); European Parliament and Council of the European Union, 2024, Art. 24(1)) | Đặt mã mẫu và mã lô nhất quán, gom thành phần vật liệu theo lô vào một nơi, ghi hàng tồn dù có thể được miễn, trước khi chọn công nghệ gắn nhãn |
| Nên mua AI, 3D hay metaverse trước? | Từ khoá AI chọn được 23 trong 316 bài ở mẫu Hàn Quốc; tần suất chủ đề không phải hiệu quả (Nam và Kim, 2025, Methods) | Chọn theo một câu hỏi vận hành đo được, không theo độ nóng của từ khoá |

Cách này hợp nếu bạn bán hoặc sắp bán vào EU, hoặc cần cớ để từ chối một lời chào. Nó không hợp nếu bạn chỉ bán nội địa và chưa có kế hoạch xuất khẩu: khi đó luật EU chưa chạm vào bạn, và hai tổng quan không đủ để chọn công nghệ.

## Đào sâu: các tổng quan này yếu ở đâu?

Sarker và Bartok bắt đầu từ 2012 vì "the first digital technologies were introduced to the industry in 2011", dẫn hai bài khác (Sarker và Bartok, 2024, p. 5). Họ tự nhận giới hạn: chỉ dùng bài báo và tổng quan, bỏ sách và kỷ yếu, và từ khoá có thể thêm "apparel industry" hay "transformation" (Sarker và Bartok, 2024, p. 16). Tôi thấy hai chỗ lệch: tám yếu tố xanh ở Bảng 3 không trùng hẳn đoạn văn ngay sau (đoạn có "green building", bảng thì không) (Sarker và Bartok, 2024, pp. 10–11), và văn bản không giải thích khoảng chênh giữa 518 và 473 bản ghi; sơ đồ ở Hình 3 là ảnh, tôi không đọc được từ phần chữ.

Nam và Kim nói bài cho "universal insights" về cơ chế số hoá ngành thời trang, dùng được ở bối cảnh toàn cầu (Nam và Kim, 2025, Conclusions), rồi ở phần giới hạn lại nói dữ liệu chỉ từ tạp chí Hàn Quốc và cần so sánh với dữ liệu quốc tế (Nam và Kim, 2025, Limitations). Số bài cũng chưa khớp: 316 bài vào phân tích cuối, rồi 249 bài theo năm yếu tố, và văn bản không nói 67 bài kia đi đâu; cũng không nói các số 159 định tính và 121 định lượng tính trên 316 hay 249 bài (Nam và Kim, 2025, Methods; Nam và Kim, 2025, Results).

Cả hai bài chỉ nhìn vào văn bản đã xuất bản, nên nghiên cứu chưa công bố và số liệu nội bộ của doanh nghiệp nằm ngoài mẫu (suy luận của tôi). Tôi không dùng báo cáo ngành như McKinsey hay Business of Fashion.

## Tôi đọc những gì?

Sarker và Bartok (2024): toàn văn PDF của tạp chí (21 trang, truy cập mở), gồm phương pháp, Bảng 1–4 và danh sách khoảng trống; tôi không mở các bài họ trích. Số trang theo trang in của PDF.

Nam và Kim (2025): toàn văn HTML truy cập mở, từ phần giới thiệu đến giới hạn. Tôi không mở 14 bảng (chỉ có liên kết "full size table"), nên các số tôi nêu lấy từ phần văn bản. Bản HTML không có số trang, nên tôi ghi tên phần.

Liu và Liu (2025): chỉ tóm tắt qua Crossref; bài đóng, không có bản mở.

Quy định (EU) 2024/1781: các đoạn dẫn nhập (1)–(38), (49), (55)–(57), các Điều 9–10, 23–26, 27, 29, 79–80 và Phụ lục III, VII; không đọc hết phần thân hơn 2.300 dòng, nhưng đã tìm "RFID" và "blockchain" trong toàn văn, kể cả phụ lục. Kế hoạch làm việc COM(2025) 187 và Quy định uỷ quyền (EU) 2026/296: toàn văn. Giới hạn chung: bài không nói gì về kết quả kinh doanh của công nghệ, về doanh nghiệp Việt hay luật Việt Nam, và tôi chưa kiểm Official Journal sau ngày 3/11/2026.

## Câu hỏi thường gặp

### Tổng quan hệ thống khác phân tích thư mục ở chỗ nào?

Sarker và Bartok (2024) làm tổng quan hệ thống theo PRISMA 2020, khung báo cáo chuẩn cho loại tổng quan này, rồi phân tích mô tả và phân tích nội dung (Sarker và Bartok, 2024, p. 1). Nam và Kim (2025) dùng phân tích thư mục, tức đếm định lượng tài liệu để tìm xu hướng, cộng phân tích tần suất và mạng lưới từ khoá (Nam và Kim, 2025, Introduction). Liu và Liu (2025) ghép cả hai trong tóm tắt: tổng quan hệ thống bằng phân tích thư mục và phân tích chủ đề (Liu và Liu, 2025).

### Hộ chiếu sản phẩm số có bắt buộc dùng RFID hay blockchain không?

Trong toàn văn Quy định, kể cả phụ lục, tôi không thấy từ "RFID" lẫn "blockchain". Điều 10 đòi hộ chiếu gắn qua một vật mang dữ liệu với mã định danh sản phẩm duy nhất, và dữ liệu theo chuẩn mở, đọc được bằng máy khi thích hợp (European Parliament and Council of the European Union, 2024, Art. 10(1)). Đoạn dẫn nhập (37) lấy mã QR và hình mờ làm ví dụ về vật mang dữ liệu (European Parliament and Council of the European Union, 2024, Recital 37). Phụ lục III dẫn bộ chuẩn ISO/IEC 15459 cho mã định danh và vật mang (European Parliament and Council of the European Union, 2024, Annex III).

### Bài của Liu và Liu (2025) có bản đọc miễn phí không?

Tôi tra Unpaywall ngày 3/11/2026: bài được ghi là truy cập đóng và không có bản trong kho lưu trữ nào. Trang nhà xuất bản chặn truy cập tự động, nên tôi chỉ đọc tóm tắt qua Crossref (Liu và Liu, 2025). Vì thế bài này không dùng kết quả chi tiết của Liu và Liu.

### Hộ chiếu sản phẩm số cho hàng may mặc bắt đầu có hiệu lực khi nào?

Tôi chưa thấy ngày. Kế hoạch làm việc của Uỷ ban Châu Âu (4/2025) chỉ nêu mốc thông qua quy định uỷ quyền cho dệt may là 2027, dạng "dự kiến" (European Commission, 2025). Điều 9(4) còn cho phép Uỷ ban miễn một nhóm hàng khỏi yêu cầu hộ chiếu nếu chưa có đặc tả kỹ thuật (European Parliament and Council of the European Union, 2024, Art. 9(4)). Tôi chưa tra Official Journal sau ngày 3/11/2026.

## Tài liệu tham khảo

- European Commission (2025) *Ecodesign for sustainable products and energy labelling working plan 2025-2030 (COM(2025) 187 final)*. (Communication from the Commission, Brussels, 16 April 2025). Available at: https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/?uri=CELEX:52025DC0187 (Accessed: 2026-11-03).
- European Commission (2026) *Commission Delegated Regulation (EU) 2026/296 of 9 February 2026 supplementing Regulation (EU) 2024/1781 by setting out derogations from the prohibition of destruction of unsold consumer products*. (Official Journal of the European Union, L, 22 April 2026). Available at: https://eur-lex.europa.eu/eli/reg_del/2026/296/oj/eng (Accessed: 2026-11-03).
- European Parliament and Council of the European Union (2024) *Regulation (EU) 2024/1781 of the European Parliament and of the Council of 13 June 2024 establishing a framework for the setting of ecodesign requirements for sustainable products, amending Directive (EU) 2020/1828 and Regulation (EU) 2023/1542 and repealing Directive 2009/125/EC*. (Official Journal of the European Union, L, 28 June 2024). Available at: https://eur-lex.europa.eu/eli/reg/2024/1781/oj (Accessed: 2026-11-03).
- Liu, S. and Liu, C. (2025) ‘Mapping the digital transformation in the fashion industry: the past, present and future’, *Journal of Fashion Marketing and Management*, 29(7), pp. 1292–1319. https://doi.org/10.1108/JFMM-09-2024-0380
- Nam, S. and Kim, S. (2025) ‘Deciphering the digital evolution: strategic insights into the Korean fashion industry through advanced analytical perspectives’, *Fashion and Textiles*, 12(1), article 6. https://doi.org/10.1186/s40691-025-00415-0
- Sarker, S.I. and Bartok, I. (2024) ‘A systematic review of green and digital transitional factors in the fashion industry’, *Business Systems Research*, 15(1), pp. 1–21. https://doi.org/10.2478/bsrj-2024-0001

---

Bản HTML chuẩn: https://staging.khoi.co.uk/blog/so-hoa-nganh-thoi-trang-ban-do-nghien-cuu
