Framework

CSR tường minh và CSR ngầm định: Mỹ và châu Âu

Câu hỏi nó trả lời

Giám đốc bền vững báo cáo cho cả Mỹ lẫn châu Âu hỏi: vì sao doanh nghiệp Mỹ công bố chương trình xã hội tự nguyện, còn doanh nghiệp châu Âu thường để luật và quy tắc chung lo việc tương tự?

Xuất xứ
Matten and Moon, 2008
Loại sơ đồ
Bảng so sánh
Cấp độ phân tích
Ngành
Cán cân đất sét với hai đĩa kính cân bằng, biểu tượng đạo đức doanh nghiệp

Sơ đồ

CSR tường minh và CSR ngầm định: Mỹ và châu Âu

Tiêu chíCSR tường minh (điển hình ở Mỹ)CSR ngầm định (điển hình ở châu Âu)
Mô tả điều gìChính sách doanh nghiệp nhận và nói rõ trách nhiệm với một số lợi ích xã hộiVai trò của doanh nghiệp trong các thể chế chính thức và phi chính thức vì lợi ích xã hội
Gồm những gìChương trình và chiến lược tự nguyện của doanh nghiệp, kết hợp giá trị xã hội và kinh doanhGiá trị, chuẩn mực và quy tắc tạo ra yêu cầu bắt buộc hoặc theo tập quán với doanh nghiệp
Động lựcKỳ vọng được cảm nhận của các bên liên quan; doanh nghiệp tự quyếtĐồng thuận xã hội về kỳ vọng chính đáng của mọi nhóm lớn; nghĩa vụ xác định theo tập thể
Cách nóiDoanh nghiệp dùng ngôn ngữ CSRDoanh nghiệp thường không gọi việc đó là CSR

Khi nào dùng, khi nào không

Nên dùng khi

Dùng để giải thích vì sao cùng một nghĩa vụ xuất hiện như chương trình CSR ở nước này nhưng như yêu cầu pháp lý hoặc tập thể ở nước khác, trước khi so sánh báo cáo CSR giữa các nước.

Cạm bẫy

Cạm bẫy

Matten và Moon coi sự khác biệt là mức độ nhấn mạnh, không phải hai khối đối lập: Mỹ có yếu tố ngầm định, châu Âu có yếu tố tường minh, và CSR tường minh đang tăng ở châu Âu. Trong bài, châu Âu gồm cả Anh và Ireland, nên không đồng nghĩa với lục địa châu Âu.

Nguồn

Tài liệu tham khảo

Xếp A–Z theo họ tác giả, kiểu Harvard. Nguồn có DOI thì link https://doi.org/…; nguồn không có DOI thì link trang nguồn hoặc ghi rõ không có DOI.

  1. Matten, D. and Moon, J. (2008) ‘'Implicit' and 'explicit' CSR: a conceptual framework for a comparative understanding of corporate social responsibility’, Academy of Management Review, 33(2), pp. 404–424.doi:10.5465/amr.2008.31193458Trang nguồn