Chiến lược & lãnh đạoĐăng 4 phút đọcCó bản English

Năm lực lượng cạnh tranh của Porter: ví dụ chấm điểm cho thương hiệu giày thể thao Việt

Cách chấm năm lực lượng của Porter qua một thương hiệu giày thể thao Việt giả định sắp ra mẫu mới. Dành cho người cần phân tích một ngành; điểm số chỉ là minh hoạ, không phải số liệu thị trường.

Xem .mdLinkedIn

Giả sử một thương hiệu giày thể thao Việt chuẩn bị ra mẫu mới. Nên đặt cược vào giá, vào thiết kế, hay vào kênh bán? Câu trả lời phụ thuộc vào việc sức ép trong ngành đến từ đâu, và Năm lực lượng cạnh tranh là công cụ để tách từng nguồn sức ép ra khỏi nhau.

Năm lực lượng dùng để làm gì?

Mô hình trả lời một câu hỏi hẹp: ngành này giữ lại được bao nhiêu lợi nhuận cho doanh nghiệp trung bình, và lực nào đang lấy phần lợi nhuận đó đi (Porter, 2008). Nó mô tả cấu trúc ngành. Vì vậy số liệu riêng của một công ty không dùng được để chứng minh một lực của ngành.

Năm lực lượng cạnh tranh

Ngành này hấp dẫn đến mức nào về khả năng sinh lời dài hạn, và sức ép đến từ đâu?

Sức hấp dẫn của ngành
Cạnh tranh giữa các đối thủ hiện có
Nguy cơ từ người mới gia nhập
Nguy cơ từ sản phẩm thay thế
Quyền lực thương lượng của người mua
Quyền lực thương lượng của nhà cung cấp
Hình 1 · Sơ đồ năm lực lượng (vẽ lại từ Porter, 2008).Trang framework

Năm lực lượng chấm thế nào cho một thương hiệu giày thể thao Việt?

Trong ví dụ này, người mua và đối thủ hiện có chấm cao nhất, nhà cung cấp thấp nhất. Các mức thấp, trung bình, cao và lý do đi kèm là giả định để minh hoạ cách làm, không có số liệu thị trường đứng sau. Khi làm thật, mỗi lý do cần một nguồn có ngày.

Sơ đồ trung tâm

Giày thể thao Việt NamTrung bình
Đối thủ hiện có: thương hiệu quốc tế và nội địa cùng bán một tầm giáCao
Người mới gia nhập: nhiều xưởng gia công, ít thương hiệu có kênh riêngTrung bình
Sản phẩm thay thế: giày hàng hiệu cũ, giày không nhãnTrung bình
Người mua: sàn thương mại điện tử và chuỗi bán lẻ ép giá, so sánh giá ngay trên điện thoạiCao
Nhà cung cấp: vật liệu và gia công có nhiều nơi thay thếThấp
Hình 2 · Mức chấm giả định, chỉ để minh hoạ cách dùng.

Nếu các giả định trên đúng, kênh bán quyết định biên lợi nhuận của một thương hiệu nhỏ, và thiết kế đẹp mà không có kênh riêng vẫn bị ép giá.

Dùng bảng chấm vào việc gì?

Đọc bảng như một danh sách việc cần làm: lực nào chấm cao thì chọn nước đi làm yếu lực đó. Porter coi chiến lược là xây thế phòng thủ trước các lực cạnh tranh, hoặc tìm một vị trí trong ngành nơi các lực yếu hơn (Porter, 2008). Trong ví dụ này, người mua mạnh thì bán trực tiếp và xây tập khách quen. Đối thủ dày thì tránh cạnh tranh về giá ở tầm giá đông nhất.

Đào sâu: mô hình từ đâu ra và Porter bổ sung gì sau này?

Porter công bố mô hình lần đầu trên Harvard Business Review năm 1979 (Porter, 1979), rồi phát triển trong cuốn sách năm 1980 về phân tích ngành và đối thủ (Porter, 1980). Bài năm 2008 khẳng định lại mô hình và mở rộng nó (Porter, 2008). Bài giải thích vì sao một ngành tăng trưởng nhanh chưa chắc sinh lời, vì sao loại bỏ đối thủ bằng sáp nhập có thể làm giảm tiềm năng lợi nhuận của cả ngành, chính sách của chính phủ làm đổi sức mạnh tương đối của các lực ra sao, và cách dùng năm lực để hiểu sản phẩm bổ trợ (Porter, 2008).

Tài liệu tham khảo

Xếp A–Z theo họ tác giả, kiểu Harvard. Nguồn có DOI thì link https://doi.org/…; nguồn không có DOI thì link trang nguồn hoặc ghi rõ không có DOI.

  1. Porter, M.E. (1979) ‘How competitive forces shape strategy’, Harvard Business Review, 57(2), pp. 137–145.Không có DOIhbr.orgĐược trích trong 1 bài
  2. Porter, M.E. (1980) Competitive strategy: techniques for analyzing industries and competitors. New York: Free Press.Không có DOIĐược trích trong 1 bài
  3. Porter, M.E. (2008) ‘The five competitive forces that shape strategy’, Harvard Business Review, 86(1), pp. 78–93.Không có DOIhbr.orgĐược trích trong 1 bài

Bài này có ích với bạn không?

Chấm điểm bài viết từ 1 đến 5 sao

Chưa có lượt chấm nào.

Bình luận (0)

Chưa có bình luận, hãy là người đầu tiên.

Viết bình luận

Bình luận được kiểm duyệt trước khi hiện. Có thể mất vài giờ.