Chọn vị trí nhà máy hay kho: năm nhóm tiêu chí và điểm hoà vốn
Dành cho chủ doanh nghiệp hay giám đốc vận hành sắp mở nhà máy hoặc kho mới. Bài đi qua phễu bốn pha và năm nhóm tiêu chí của thư viện, đếm số tuyến vận chuyển, tính điểm hoà vốn của một kho thuê trong ví dụ giả định, và cho một ví dụ trong đó đổi trọng số là đổi thứ hạng.
Một nhà sản xuất sơn nước (giả định, tôi không nhắm vào công ty nào) có hai nhà máy ở Long An và Bình Dương, giao cho 15 đại lý khắp đồng bằng sông Cửu Long. Mỗi nhà máy hiện giao thẳng đến từng đại lý, thường là chuyến thiếu tải. Người ta đề nghị thuê một kho ở Cần Thơ. Chọn kho ở đâu, hay không làm gì cả, là câu hỏi của bài này.
Quyết định địa điểm nên đi theo thứ tự nào?
Phễu chọn địa điểm: từ chiến lược đến địa điểm cụ thể chia thành bốn pha, thu hẹp dần (Chopra, 2019). Pha một xác định chiến lược cạnh tranh và thiết kế chuỗi cung ứng: tự làm khâu nào, thuê ngoài khâu nào, mở rộng bằng mua lại, xây mới hay hợp tác. Pha hai chọn cấu hình theo vùng: nhu cầu từng vùng, thuế và ưu đãi, thời gian đáp ứng mong muốn, từ đó ra vùng nào, mấy cơ sở và công suất bao nhiêu. Pha ba chọn tập địa điểm tiềm năng trong mỗi vùng, xét hạ tầng cứng như vận tải và tiện ích, hạ tầng mềm như lao động và thái độ cộng đồng. Pha bốn chốt địa điểm bằng cách ước tính cầu và chi phí từng nơi.
Chopra nêu hai lưu ý: doanh nghiệp theo chi phí thấp thường chọn nơi rẻ nhất dù xa thị trường, còn doanh nghiệp theo tốc độ đáp ứng đặt cơ sở gần khách, kể cả ở nơi đắt hơn. Nhà máy thường nằm yên mười năm trở lên, trong khi kho không thuộc sở hữu của công ty có thể đổi trong vòng một năm (Chopra, 2019). Bài hiệu quả hay đáp ứng nhanh giúp xác định pha một. Nhà sơn trong ví dụ làm hàng bán đều, nên pha một nghiêng về chi phí, nhưng đại lý đang than giao chậm.
Năm nhóm tiêu chí gồm gì?
Năm nhóm tiêu chí chọn địa điểm liệt kê năm nhóm (Slack et al., 2022, ch. 5):
| Nhóm | Gồm |
|---|---|
| Vốn đầu tư | Thuê hoặc mua đất, tiếp cận, tiện ích, chi phí chuyển |
| Thị trường | Hình ảnh, mức phục vụ khách, thị trường lao động |
| Chi phí | Sản xuất, yếu tố cộng đồng như thuế và chính sách, vận chuyển |
| Linh hoạt về sau | Chỗ mở rộng, thích ứng khi nhà cung cấp hoặc khách chuyển chỗ |
| Rủi ro | Rủi ro khi chuyển, rủi ro dài hạn như tỷ giá, chi phí lao động, an ninh |
Điểm đáng nhớ nhất là lưu ý đi kèm. Slack và cộng sự nêu hai lỗi: chỉ xét một địa điểm, và quên phương án ở yên. Họ khuyên luôn giữ "không chuyển" làm mốc so sánh, vì chi phí chuyển và rủi ro làm phiền khách rất lớn, và một quyết định địa điểm đã chốt thì khó đảo ngược (Slack et al., 2022, ch. 5). Trong ví dụ, phương án A là ở yên, giao thẳng từ hai nhà máy.
Đếm tuyến: giao thẳng hay qua kho?
Giao thẳng hay qua kho: chọn mạng phân phối so hai mạng. Giao thẳng từ nhà sản xuất giữ tồn kho dồn một chỗ, nên tồn ít mà luôn sẵn hàng, nhưng vận chuyển đắt vì xa khách và đơn nhiều nguồn đến nhiều chuyến. Qua kho trung gian cần nhiều tồn kho hơn vì mất lợi thế dồn kho, nhưng ít hơn nhiều so với mạng cửa hàng bán lẻ; xe đầy tải chạy vào kho, đơn được gộp thành một chuyến giao (Chopra, 2019). Kho cũng làm chi phí cơ sở cao hơn một chút và không hợp với hàng bán rất chậm. Chopra nhắc phần lớn công ty kết hợp nhiều mạng thay vì chọn một.
Một phép đếm đơn giản cho thấy lý do. Nếu mỗi nhà máy giao thẳng đến mỗi đại lý, m nhà máy và n đại lý cần m × n tuyến. Qua một kho thì chỉ còn m tuyến vào kho và n tuyến ra: m + n. Với 2 nhà máy và 15 đại lý, giao thẳng là 30 tuyến, qua kho là 17. Đây là phép đếm của tôi, đúng khi mọi nhà máy đều phục vụ mọi đại lý, không phải số liệu từ sách.
Số tuyến ít chưa chắc rẻ hơn: kho có chi phí cố định. Ví dụ giả định cho nhà sơn: giao thẳng tốn 600.000 đồng mỗi pallet vì chạy thiếu tải. Qua kho thì xe đầy tải vào kho (150.000 đồng mỗi pallet) rồi gộp đơn giao ra (290.000), tổng 440.000. Kho thuê tốn 90 triệu đồng mỗi tháng, cộng 25 triệu cho vốn nằm trong tồn kho thêm và nhân công: chi phí cố định 115 triệu. Mỗi pallet đi qua kho tiết kiệm 160.000 đồng, nên hoà vốn ở 115 triệu ÷ 160.000 ≈ 719 pallet mỗi tháng.
| Pallet mỗi tháng | Giao thẳng (triệu đồng) | Qua kho (triệu đồng) | Chênh lệch |
|---|---|---|---|
| 600 | 360 | 379 | kho lỗ 19 |
| 720 | 432 | 431,8 | gần hoà vốn |
| 900 | 540 | 511 | kho lãi 29 (5,4%) |
| 1.000 | 600 | 555 | kho lãi 45 (7,5%) |
Với 900 pallet mỗi tháng, kho tiết kiệm khoảng 29 triệu mỗi tháng. Nhưng chỉ cần sản lượng giảm 20%, tức còn 720, là phần tiết kiệm biến mất. Vì vậy điều đáng hỏi không phải "kho có rẻ hơn không" mà là "sản lượng thấp nhất đủ tin để cam kết hợp đồng thuê là bao nhiêu". Với hàng nhỏ giọt thì khác: Chopra viết giao thẳng hợp hàng giá trị cao, nhu cầu thấp và khó đoán, khách chịu chờ (Chopra, 2019).
Chấm điểm năm nhóm, và trọng số đổi thì chuyện gì xảy ra?
Ba phương án: A ở yên giao thẳng, B thuê kho ở Cần Thơ, C thuê kho ở Long An, gần nhà máy. Điểm từ 1 đến 5, cao là tốt, do tôi đặt. Điểm chi phí của B và C giả định sản lượng quanh 900 pallet mỗi tháng, trên điểm hoà vốn:
| Nhóm | A: giữ nguyên | B: kho Cần Thơ | C: kho Long An |
|---|---|---|---|
| Vốn đầu tư | 5 | 3 | 3 |
| Thị trường | 2 | 5 | 3 |
| Chi phí | 2 | 4 | 4 |
| Linh hoạt về sau | 4 | 3 | 4 |
| Rủi ro | 4 | 3 | 3 |
Hai bộ trọng số (phần trăm theo thứ tự năm nhóm): bộ một 20, 25, 25, 15, 15, bộ hai 35, 10, 25, 15, 15 cho công ty thiếu vốn và ít bị khách ép về tốc độ.
| Bộ trọng số | A | B | C |
|---|---|---|---|
| Bộ một (thị trường quan trọng) | 3,20 | 3,75 | 3,40 |
| Bộ hai (vốn quan trọng) | 3,65 | 3,45 | 3,40 |
Bộ một chọn B, bộ hai chọn A, cùng một bộ điểm. Đó là tác dụng thật của chấm điểm: không phải ra đáp án, mà làm lộ bất đồng. Nếu giám đốc bán hàng và giám đốc tài chính cho trọng số khác nhau, cuộc họp nên tranh luận trọng số, không tranh luận từng điểm. Thư viện chỉ cho năm nhóm, không cho trọng số hay thang điểm; phần chấm điểm là cách làm của tôi, không phải của Slack hay Chopra.
Đào sâu: tôi đã đọc gì, chưa đọc gì?
Tôi không đọc trực tiếp Chopra (2019) hay Slack và cộng sự (2022, chương 5). Khung bốn pha, các lưu ý về nhà máy mười năm và kho dưới một năm, so sánh giao thẳng với qua kho và năm nhóm tiêu chí lấy từ bản tóm tắt framework đã đăng trên site. Phép đếm m × n so với m + n, điểm hoà vốn 719 pallet, bảng chấm điểm và cả hai bộ trọng số là phần của tôi, đã tính lại bằng mã. Mọi con số về chi phí vận chuyển, tiền thuê, số pallet và điểm đều là giả định; đừng chép chúng vào kế hoạch của bạn.
Giới hạn lớn nhất: ví dụ coi chi phí vận chuyển mỗi pallet là cố định, trong khi thực tế đổi theo mùa, giá nhiên liệu và tải trọng. Ví dụ cũng bỏ qua thuế và ưu đãi của từng tỉnh, thứ Chopra liệt kê ở pha hai và pha bốn. Điểm hoà vốn còn dùng một chi phí trung bình cho mỗi pallet. Nếu kho đổi cả mức phục vụ, chẳng hạn giao trong ngày hôm sau cho đại lý hiện chờ ba ngày, lợi ích đó không nằm trong con số chi phí, và đó là chỗ nhóm thị trường trong bảng chấm điểm có tác dụng. Hợp đồng thuê dài hơn khoảng thời gian bạn tin vào sản lượng biến điểm hoà vốn thành một cam kết, nên nhóm linh hoạt về sau cũng quan trọng. Cùng chủ đề chuỗi cung ứng có bài Chọn nhà cung cấp: bảy chữ C và tổng chi phí.
Hỏi nhanh
Thuê kho hay xây nhà máy riêng: cái nào dễ đảo ngược hơn?
Chopra ghi nhà máy thường nằm yên mười năm trở lên, trong khi kho không thuộc sở hữu của công ty có thể đổi trong vòng một năm (Chopra, 2019). Theo cách tôi đọc, kho thuê vì thế ít rủi ro chọn sai hơn, trừ khi hợp đồng dài hoặc khoản đầu tư riêng vào kho làm mất lợi thế đó. Tôi không có số liệu về thời hạn thuê thực tế ở Việt Nam.
Trọng số của năm nhóm nên đặt thế nào?
Không có công thức. Thư viện chỉ liệt kê năm nhóm, không cho trọng số (Slack et al., 2022, ch. 5). Trong ví dụ của bài, hai bộ trọng số cho hai phương án thắng khác nhau trên cùng một bảng điểm. Cách dùng hợp lý là để các bên ra quyết định tự ghi trọng số riêng, rồi xem họ bất đồng ở nhóm nào.
m + n so với m × n có luôn đúng không?
Chỉ khi mọi nhà máy đều có thể phục vụ mọi khách, và qua đúng một kho. Nếu mỗi nhà máy chỉ làm vài mặt hàng, hoặc cần hai kho cho hai vùng, số tuyến đổi theo. Phép đếm cho biết bậc độ lớn, không thay cho việc vẽ mạng lưới thật.
Khi nào nên giữ nguyên chỗ hiện tại?
Slack và cộng sự khuyên luôn lấy phương án 'không chuyển' làm mốc so sánh, vì chi phí chuyển và rủi ro làm phiền khách rất lớn, và quyết định đã chốt thì khó đảo ngược (Slack et al., 2022, ch. 5). Theo cách tôi đọc, nếu phương án mới không thắng mốc đó một khoảng rõ rệt sau khi tính cả rủi ro, tôi sẽ không chuyển.
Tài liệu tham khảo
Xếp A–Z theo họ tác giả, kiểu Harvard. Nguồn có DOI thì link https://doi.org/…; nguồn không có DOI thì link trang nguồn hoặc ghi rõ không có DOI.
- Chopra, S. (2019) Supply chain management: strategy, planning, and operation (7th global edn). Harlow: Pearson.Không có DOIpearson.comĐược trích trong 4 bài
- Slack, N., Brandon-Jones, A. and Burgess, N. (2022) Operations Management (10th edn). Harlow: Pearson.Không có DOIpearson.comĐược trích trong 3 bài


Bài này có ích với bạn không?
Chưa có lượt chấm nào.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận, hãy là người đầu tiên.