Doanh nghiệp đa quốc gia và bất bình đẳng cơ hội: đã biết gì?
Dành cho quản lý ở doanh nghiệp vốn nước ngoài và chủ SME làm nhà cung cấp cho họ. Hai bài nghiên cứu cho thấy tác động của MNE lên cơ hội của người địa phương phụ thuộc vào chính sách nhà nước, cách MNE tuyển, trả lương, mua hàng, và còn nhiều chỗ chưa có bằng chứng.
Giả sử một nhà máy vốn nước ngoài mở cạnh xưởng bao bì của bạn. Họ trả công thợ cao hơn và hai thợ giỏi nhất của bạn xin nghỉ. Một tháng sau, nhà máy gửi yêu cầu báo giá thùng carton. Với người địa phương, đây là thêm cơ hội hay mất cơ hội? Hai bài nghiên cứu không trả lời thẳng, nhưng chỉ ra nên hỏi gì. Bài thứ nhất đề xuất chương trình nghiên cứu về doanh nghiệp đa quốc gia (MNE) và bất bình đẳng cơ hội (van der Straaten et al., 2023). Bài thứ hai khảo sát văn liệu về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và chuyển dịch cơ cấu kinh tế (Fu et al., 2021).
Bất bình đẳng cơ hội khác bất bình đẳng kết quả ở điểm nào?
Bất bình đẳng kết quả nhìn nơi người ta "về đích": thu nhập, tài sản, cấp bậc việc làm. Bất bình đẳng cơ hội hỏi vì sao họ về đích khác nhau, và tách phần do hoàn cảnh ngoài tầm kiểm soát khỏi phần do lựa chọn (van der Straaten et al., 2023).
Bài chia nguồn chênh lệch thành hai nhóm. Nỗ lực là điều người ta chọn làm và mức sức bỏ ra; bài coi đây là phần tự nguyện, ít tranh cãi. Cơ hội là rào cản ngoài tầm kiểm soát: giới, dân tộc, giai cấp hay đẳng cấp, nơi ở, tình trạng nhập cư, sức khoẻ, thu nhập của cha mẹ. Ví dụ bài nêu: làm việc ngang nhau, phụ nữ và người dân tộc thiểu số vẫn có thể bị trả thấp hơn và ít được nhận việc hơn nam giới thuộc nhóm đa số (van der Straaten et al., 2023).
Đổi cách nhìn để tìm nguyên nhân của nghịch lý: MNE được cho là tăng bất bình đẳng trong từng nước nhưng giảm bất bình đẳng giữa các nước. Bài trích ước tính của Bourguignon (2015): khoảng 20% mức giảm bất bình đẳng giữa các nước trong một thập niên bị bù lại bằng bất bình đẳng tăng trong nước. Cơ chế còn chưa được hiểu rõ, một phần vì khó chứng minh quan hệ nhân quả (van der Straaten et al., 2023).
Cách nhìn này hợp nếu bạn muốn tìm chỗ công ty mình quyết định ai được bước vào cửa. Không hợp nếu bạn cần một con số tác động: bài không có số đó.
MNE tác động đến cơ hội qua những kênh nào?
Qua ba cấp, theo bài 2023: bên trong công ty (micro), ở ngành và chuỗi cung ứng (meso), trong thoả thuận với nhà nước (macro). MNE có thể thụ động tái tạo chuẩn mực nơi đặt chi nhánh, hoặc chủ động áp chuẩn mực khác; bài đọc thực tế là cả hai (van der Straaten et al., 2023).
Ở cấp công ty, bài coi chính sách nhân sự là động lực chính. Ở chuỗi cung ứng, lợi ích lớn nhất là cơ hội nâng cấp cho doanh nghiệp nội địa, nhưng nhà cung cấp cũng hay thành bên nhận giá với biên mỏng (van der Straaten et al., 2023). Fu và cộng sự bổ sung điều nhà cung cấp học được: liên kết mua bán dọc cho lan toả tích cực, còn gia công lắp ráp ít tích luỹ tri thức nên công nghiệp hoá nhanh nhưng nông (Fu et al., 2021).
Điều nào đã có bằng chứng, điều nào mới là câu hỏi?
Phần có bằng chứng nhất quán gồm liên kết nhà cung cấp: Fu và cộng sự thấy lan toả dọc qua chuỗi cung ứng là đáng kể và vững qua nhiều bối cảnh, dù vẫn cảnh báo về quan hệ nhân quả (Fu et al., 2021). Nhưng kết luận đó nói về năng suất và cơ cấu, không nói về bất bình đẳng cơ hội. Phần còn lại chủ yếu là câu hỏi mà bài 2023 đề xuất (van der Straaten et al., 2023).
| Kênh | Văn liệu nói gì | Còn bỏ ngỏ | Câu hỏi quản lý có thể hỏi |
|---|---|---|---|
| Tuyển, trả lương, thăng chức | Công ty vốn nước ngoài ở Nhật tuyển và thăng chức nữ nhiều hơn công ty nội địa, nhưng ở nước đang phát triển chênh lệch lương giới ở MNE lại lớn hơn ở công ty nội địa (qua bài) (van der Straaten et al., 2023) | Chủng tộc, đẳng cấp, giao thoa nhiều chiều bị bỏ quên; nguyên nhân chênh lệch lương mới là giả thuyết | Người làm việc ngang nhau có được trả và thăng chức ngang nhau không? Quy định chuẩn của tập đoàn có tính đến việc chăm người thân không? |
| Lương cao và thị trường lao động | Một nghiên cứu (qua bài): lương cao cho lao động phổ thông có thể khiến học sinh gần nhà máy bỏ học (van der Straaten et al., 2023); hút lao động có kỹ năng từ nơi khác có thể làm chậm lan toả (Fu et al., 2021) | Tác động dài hạn; bài kêu gọi nghiên cứu thêm | Ta tuyển người từ đâu: từ trường học hay từ chính nhà cung cấp? |
| Liên kết nhà cung cấp | Lan toả dọc tích cực; gia công lắp ráp ít tích luỹ năng lực; chuỗi phân cấp có thể khoá nhà cung cấp ở khâu thấp (Fu et al., 2021) | Lợi ích đó là giá trị gia tăng nội địa thật hay chỉ gia công: Fu nêu là câu hỏi mở | MNE: mua nội địa bao nhiêu, dạy nhà cung cấp gì? SME: đơn hàng này xây thêm năng lực nào? |
| Thoả thuận với nhà nước | Thiếu yêu cầu chuyển giao công nghệ, hoặc chạy đua nới lỏng quy định, khó mang lợi ích dài hạn (Fu et al., 2021) | Nước có năng lực nhà nước thấp (Fu et al., 2021); MNE nên làm gì ở nhà nước khai thác (extractive): chưa có đáp án (van der Straaten et al., 2023) | Ưu đãi gắn với cam kết nào về việc làm, đào tạo, mua nội địa? Hết ưu đãi có giữ không? |
Chính sách nhà nước quyết định phần nào của kết quả?
Theo cả hai bài, phần lớn. Bài 2023 coi tác động của MNE, tốt hay xấu, phụ thuộc vào thoả thuận không hoàn hảo giữa MNE và nhà nước: nhà nước mở thị trường và cung cấp tài sản địa điểm; MNE được kỳ vọng đóng góp việc làm, đào tạo hoặc chia sẻ thặng dư (van der Straaten et al., 2023).
Đòn bẩy cụ thể theo Fu và cộng sự gồm yêu cầu chuyển giao công nghệ, xúc tiến đầu tư có chọn loại FDI, và nâng năng lực hấp thụ qua giáo dục, năng lực công nghệ. Chạy đua nới lỏng quy định khó cho kết quả dài hạn, nên họ đề nghị các nước đang phát triển ký thoả thuận hạn chế cuộc đua này (Fu et al., 2021). Bài 2023 nhắc rằng thời thay thế nhập khẩu, nhà nước từng đòi tăng tỷ lệ nội địa hoá, nhưng TRIMS và SCM của WTO đã làm yếu công cụ ngành chọn lọc kiểu đó (van der Straaten et al., 2023).
Bài 2023 nói thẳng một đánh đổi: chính sách giảm bất bình đẳng không nhất thiết tăng sức hút với MNE. Cuba có bất bình đẳng thấp nhưng thiếu tăng trưởng và đầu tư; Trung Quốc có bất bình đẳng trong nước tăng cùng tăng trưởng cao và nhiều MNE (van der Straaten et al., 2023). Ràng buộc chặt hợp nếu nước chủ nhà có lợi thế địa điểm khó bắt chước, vì khi đó nhà nước giữ nhiều quyền chủ động hơn. Không hợp nếu lợi thế chỉ là lao động rẻ: MNE có nhiều nơi khác để chọn (van der Straaten et al., 2023).
Quản lý MNE và chủ SME nhà cung cấp làm được gì?
Bài 2023 không đưa công thức. Nó cho rằng MNE không giải quyết bất bình đẳng trong nước một mình, nhưng có thể chủ động qua quản trị nội bộ, mua hàng, tuyển dụng và quan hệ với doanh nghiệp nội địa (van der Straaten et al., 2023). Suy ra, quản lý MNE có ba quyết định trong tầm tay: bảng lương và thăng chức, tiêu chí chọn nhà cung cấp, cam kết khi nhận ưu đãi.
Với chủ SME, Fu và cộng sự cho một điểm tựa: doanh nghiệp nội địa phải vào mạng lưới của MNE và làm việc với người nắm tri thức, và lan toả thường chỉ xảy ra khi chính họ nỗ lực đổi mới. Chuỗi do vài người mua lớn chi phối có thể khoá nhà cung cấp ở khâu thấp, nhưng nhà cung cấp có kế hoạch, năng lực tương thích và hỗ trợ công vẫn thoát ra được (Fu et al., 2021). Làm nhà cung cấp hợp nếu bạn có kế hoạch nâng năng lực. Không hợp nếu đơn hàng chỉ là gia công thuần, biên mỏng và không dạy bạn thêm gì.
Dùng thử (giả định, suy ra từ hai bài, chưa kiểm chứng): xưởng bao bì 50 người bán phần lớn sản lượng cho một nhà máy vốn nước ngoài. Chủ xưởng làm bốn việc:
- Ghi tỷ trọng doanh thu từ khách này và biên lợi nhuận so với khách khác, để biết mình có đang là bên nhận giá.
- Liệt kê điều khách đã yêu cầu hoặc dạy (tiêu chuẩn chất lượng, đánh giá nhà cung cấp, quy trình), rồi gạch dưới điều dùng được với khách khác.
- Hỏi người mua kế hoạch mua nội địa trong hai năm tới. Theo Fu và cộng sự, khi chuỗi cung ứng trong nước yếu, doanh nghiệp nước ngoài có thể nhập đầu vào và bỏ qua liên kết nội địa (Fu et al., 2021).
- Hỏi cơ quan xúc tiến đầu tư của tỉnh có ghép nhà cung cấp không.
Đào sâu: hai bài không cho biết điều gì, và tôi đọc đến đâu?
Hai bài không tự ước lượng tác động của MNE lên bất bình đẳng ở nước nào và không nêu số liệu về Việt Nam. Bài 2023 nói thảo luận của nó bị rút gọn vì thiếu chỗ và thiếu bằng chứng (van der Straaten et al., 2023). Fu và cộng sự cảnh báo về quan hệ nhân quả và để ngoài phạm vi tác động của FDI lên giới, sức khoẻ (Fu et al., 2021).
Bài của van der Straaten và cộng sự đăng ở Journal of International Business Studies dưới dạng "Perspective": lập luận và đề xuất, không phải khảo sát có hệ thống. Tôi đọc bản thảo đã duyệt trong kho lưu trữ của Đại học Reading, không phải bản dàn trang, nên không trích nguyên văn hay số trang. Các kết quả thực nghiệm như Kodama và cộng sự (2018), van der Straaten và cộng sự (2020), Ibarra-Olivo (2021), tôi chỉ biết qua bài tóm tắt.
Fu, Emes và Hou tìm trong Web of Science giai đoạn 2000-2020: 1.539 bài, chọn 71, phân tích 66, rồi thêm 79 bài và ưu tiên các bài đăng ở chính International Business Review, nên mẫu không phải ngẫu nhiên. Tôi đọc bản thảo đã duyệt trong kho lưu trữ của Đại học Brunel, không đọc các bài trong mẫu.
Hỏi nhanh
Cơ quan xúc tiến đầu tư có giúp SME tìm khách hàng là doanh nghiệp vốn nước ngoài không?
Fu, Emes và Hou (2021) nêu việc ghép nhà cung cấp với đối tác là một ví dụ của chiến lược xúc tiến đầu tư mạnh, bên cạnh cung cấp thông tin và hỗ trợ thủ tục. Bản khảo sát không kiểm tra xem hoạt động đó có hiệu quả không. Hãy hỏi trực tiếp cơ quan xúc tiến ở tỉnh bạn họ có làm việc này không, thay vì mặc định là có.
Việt Nam có số liệu trong hai bài này không?
Phần văn bản tôi đọc không nêu kết quả riêng cho Việt Nam. Danh mục tài liệu của Fu và cộng sự đánh dấu bốn nghiên cứu về Việt Nam trong mẫu (lan toả xuất khẩu, năng suất theo vùng, liên kết dọc, lan toả theo không gian), nhưng tôi chưa đọc các bài gốc. Vì vậy, mọi ví dụ Việt Nam trong bài này đều là giả định.
"Obsolescence bargaining" là gì, và nó liên quan gì tới việc đàm phán với MNE?
Bài của van der Straaten, Narula và Giuliani (2023) dùng thuật ngữ này, qua Vernon (1971), để chỉ việc cán cân quyền lực giữa MNE và nhà nước không đứng yên: nó đổi theo biến động địa chính trị và theo khoản đầu tư chìm của MNE ở địa phương. Hệ quả cho người ngồi vào bàn thương lượng là một cam kết hôm nay có thể được tôn trọng khác đi sau vài năm.
Tài liệu tham khảo
Xếp A–Z theo họ tác giả, kiểu Harvard. Nguồn có DOI thì link https://doi.org/…; nguồn không có DOI thì link trang nguồn hoặc ghi rõ không có DOI.
- Fu, X., Emes, D. and Hou, J. (2021) ‘Multinational enterprises and structural transformation in emerging and developing countries: a survey of the literature’, International Business Review, 30(2), art. 101801.doi:10.1016/j.ibusrev.2021.101801Được trích trong 1 bài
- van der Straaten, K., Narula, R. and Giuliani, E. (2023) ‘The multinational enterprise, development, and the inequality of opportunities: a research agenda’, Journal of International Business Studies, 54(9), pp. 1623–1640.doi:10.1057/s41267-023-00625-yĐược trích trong 1 bài

Bài này có ích với bạn không?
Chưa có lượt chấm nào.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận, hãy là người đầu tiên.