Lương CEO gấp 290 lần công nhân: con số chưa phải bản án
Dành cho chủ doanh nghiệp và thành viên hội đồng quản trị đang duyệt lương cho người đứng đầu. Tỷ lệ 290:1 của EPI chỉ là bằng chứng để điều tra; Rawls không đòi lương bằng nhau mà hỏi ai đặt mức lương, bằng quy trình nào.
Hội đồng quản trị đang xem bảng lương năm sau. Dòng đầu là lương giám đốc điều hành, và có người nhắc: ở Mỹ, CEO nhận gấp 300 lần công nhân. Câu đó đúng đến đâu, và nó có nghĩa lương giám đốc bên bạn bất công không? Bài này tách hai câu hỏi: con số nói gì, và thể chế đặt ra con số có đứng vững không.
Tỷ lệ 300:1 thực ra là bao nhiêu, và ai đo?
EPI, một viện nghiên cứu chính sách ở Washington, đo được 290 chứ không phải 300. Năm 2023, theo thù lao thực nhận, CEO của 350 công ty đại chúng lớn nhất nước Mỹ theo doanh thu nhận gấp 290 lần công nhân điển hình; theo thù lao được trao thì 192. Năm 1965, theo thù lao thực nhận, là 21 (Economic Policy Institute, 2024, p. 1, 2). Gặp "300:1" trên slide, hãy hỏi năm nào, thước nào.
Tỷ lệ tính cho từng công ty rồi lấy trung bình, với mẫu số là thù lao trung bình (lương và phúc lợi) của công nhân sản xuất, nhân viên không giám sát trong ngành chính của công ty, vì không có số liệu theo từng công ty (Economic Policy Institute, 2024, p. 6). Con số dao động theo thị trường chứng khoán vì thù lao CEO chủ yếu là cổ phiếu (Economic Policy Institute, 2024, p. 1, 4): 360 năm 2022, 405 năm 2021, mức cao nhất lịch sử theo báo cáo (Economic Policy Institute, 2024, p. 5, 9).
Báo cáo của EPI viết rằng thù lao tăng vì CEO dùng quyền lực tự đặt lương, không phải vì kỹ năng hay đóng góp tăng (Economic Policy Institute, 2024, p. 1). Đó là lập luận của một bên. Đọc tỷ số thế nào, xem năm câu hỏi đọc biểu đồ.
Rawls nói gì về chênh lệch lương, và vì sao câu hỏi chuyển sang thể chế?
Rawls không đòi lương bằng nhau. Công lý như sự công bằng gồm tự do cơ bản bình đẳng, rồi cơ hội công bằng và nguyên tắc khác biệt: bất bình đẳng chỉ chấp nhận khi đem lại lợi ích lớn nhất cho nhóm yếu thế nhất. Người ta chọn các nguyên tắc ấy sau bức màn vô minh, khi chưa biết mình đứng ở đâu (Rawls, 2001). Nên lương cao không tự nó bất công, và một con số riêng lẻ không đủ để phán.
Trong đoạn trích chương một tôi đọc được, Rawls hướng nguyên tắc vào "the main political and social institutions and the way they fit together as one scheme of cooperation" của xã hội (§1.3) (Rawls, 2001). Đó là thể chế của cả xã hội, không phải của một công ty. Đem phép thử vào phòng họp hội đồng là phép loại suy của khung của thư viện, và tôi ghi rõ như vậy.
Phép thử thể chế cho tỷ lệ thù lao
Khi hội đồng quản trị duyệt lương CEO cao gấp nhiều lần lương trung vị, làm sao biết mức chênh ấy công bằng, xét theo quy trình và thể chế đã tạo ra nó?
- Bốn bước kiểm tra
- Coi tỷ lệ là bằng chứng cần điều traKhông phải phán quyết.
- Kiểm tra tự do chính trịCủa cải tập trung có biến thành quyền chi phối luật thuế, lao động, quản trị không?
- Kiểm tra cơ hội công bằngLối vào vị trí điều hành có phụ thuộc xuất thân, mạng lưới thừa kế, giáo dục bất bình đẳng không?
- Kiểm tra nguyên tắc khác biệt bằng so sánh khả thiCấu trúc A (trả cao hơn mức cần để thu hút, giữ chân, tạo động lực) so với cấu trúc B (giữ động lực cần thiết, chuyển phần dư cho nhóm yếu thế nhất). Nếu B tốt hơn và khả thi thì tỷ lệ bất công.
Bước cuối khó nhất vì đòi so sánh hai cấu trúc có thật. Thư viện nêu hai cái bẫy: coi "công nhân trung bình" là "nhóm yếu thế nhất", và khẳng định lương vượt mức thù lao hiệu quả tối thiểu khi chưa có dữ liệu.
Bốn lập luận biện minh lương cao đứng được đến đâu?
Chỉ lập luận động lực đứng được, có điều kiện; ba lập luận kia yếu đến vừa theo thư viện.
Bốn lập luận biện minh thù lao cao
Khi hội đồng quản trị duyệt gói thù lao rất cao cho CEO, lập luận nào (tài năng, nỗ lực, đóng góp, động lực) đứng vững trước phản biện, lập luận nào sụp?
| Tiêu chí | Luận điểm | Phản biện chính | Còn đứng vững không |
|---|---|---|---|
| Tài năng | Thị trường trả cho người giỏi hơn | Tài năng là may mắn tự nhiên; giá trị thị trường của nó phụ thuộc cung cầu | Yếu |
| Nỗ lực | Họ làm nhiều và chịu rủi ro hơn | Khó đo; năng lực nỗ lực một phần do tài năng; rủi ro thấp hơn nhiều nghề khác | Yếu |
| Đóng góp | Họ tạo nhiều giá trị | Sản lượng là kết quả phân công lao động và hợp tác xã hội; năng suất biên sụp ở quy mô lớn | Yếu đến vừa |
| Động lực | Lương cao thu hút và gắn lợi ích với cổ đông | Đúng trong điều kiện thị trường cạnh tranh và quản trị tốt; thực tế hội đồng quản trị có thể bị chi phối | Vừa, có điều kiện |
Tài năng: thư viện nêu phản biện rằng tài năng là may mắn tự nhiên, giá trị thị trường của nó phụ thuộc cung cầu. Gabaix và Landier đứng phía kia. Trong mô hình của họ, chênh lệch tài năng ở đỉnh rất nhỏ (thay CEO số 1 bằng CEO số 250 chỉ làm giá trị công ty giảm 0,016%), nhưng quy mô công ty khuếch đại thành chênh lệch lương trên 500%, và họ viết rằng chênh lệch nhỏ ấy vẫn "biện minh" lương lớn (Gabaix và Landier, 2008). Theo cách đọc của tôi, đó là biện minh trong cân bằng thị trường của mô hình, không nói lương ấy xứng đáng. Scanlon định nghĩa biện minh theo sự xứng đáng là biện minh một cách đối xử chỉ bằng việc người đó thế nào và đã làm gì, không dựa vào hậu quả tốt, thể chế hay khả năng tránh được; tóm tắt nói bài xét cả phần thưởng kinh tế, không nêu kết luận (Scanlon, 2013).
Nỗ lực: thư viện nêu ba phản biện (khó đo, một phần là tài năng, rủi ro thấp hơn nhiều nghề); không nguồn nào tôi đọc đi sâu hơn.
Đóng góp: Dietsch lập luận rằng khi các bên phụ thuộc lẫn nhau như nhau trong phân công lao động, thặng dư hợp tác nên chia đều (Dietsch, 2008). Tóm tắt không nhắc CEO; thư viện là bên áp dụng.
Động lực: Boatright viết rằng lương cao có thể biện minh trong chủ nghĩa tư bản thị trường tự do nếu một số điều kiện được đáp ứng, trong đó có việc thương lượng giữa CEO và cổ đông không có gian lận hay vi phạm nghĩa vụ uỷ thác (Boatright, 2010). Edmans và Gabaix khảo sát các lý thuyết hợp đồng tối ưu và nói nhiều đặc điểm tưởng bất hợp lý của gói lương vẫn nhất quán với hiệu quả (Edmans và Gabaix, 2009). Moriarty đặt giới hạn lên chính CEO: nghĩa vụ uỷ thác giới hạn mức lương họ được nhận, vì nhận quá mức làm cổ đông, người thụ hưởng, thiệt (Moriarty, 2009). EPI coi tỷ lệ CEO so với nhóm 0,1% lương cao nhất (9,4 năm 2022, trung bình 2,6 giai đoạn 1965–1978) là dấu hiệu của tô kinh tế, và dẫn Kaplan là tiếng nói nổi bật nhất của cách đọc "thị trường tài năng" (Economic Policy Institute, 2024, p. 10). Bước 4 phụ thuộc vào đó, vì có phần lương vượt mức tối thiểu để chuyển cho nhóm yếu thế hay không là câu hỏi thực nghiệm.
Hội đồng của một công ty gia đình nhỏ chạy thử ra sao?
Ví dụ giả định. Công ty Bao bì Ví Dụ ("ví dụ" là nghĩa của tên), người và số liệu đều do tôi bịa. Công ty làm thùng carton, 85 nhân viên. Ông T. sở hữu 60%, làm chủ tịch kiêm giám đốc; vợ ông giữ 15%; em gái ông, bà M., giữ 25%, làm nơi khác. Hội đồng ba người: ông T., vợ ông và người anh họ làm kế toán trưởng. Ông T. nhận 1,8 tỷ đồng mỗi năm (chưa tính cổ tức), nhân viên trung vị 120 triệu: tỷ lệ 15:1, không so thẳng được với EPI vì mẫu số khác. Bốn mươi nhân viên kho và chuyền thấp lương nhất nhận 84 triệu. Một công ty săn đầu người báo giá 1,0 tỷ cho giám đốc thuê ngoài. Ông T. bảo lãnh khoản vay 5 tỷ bằng tài sản riêng.
Bước 1, ai đặt lương? Ông T. ngồi trong hội đồng duyệt lương cho chính mình, cùng vợ và người anh họ làm kế toán cho ông. Bà M., người gánh một phần tư chi phí mà không nhận đồng lương nào, không có mặt. Bước 2, tự do chính trị: không áp dụng ở quy mô 85 người.
Bước 3, cơ hội công bằng: giả định sáu vị trí quản lý đều do người nhà giữ, mười năm qua không nhân viên ngoài gia đình nào được đề bạt. Đó là cờ đỏ; bài về kế thừa trong doanh nghiệp gia đình bàn thêm.
Bước 4, so sánh khả thi. Cấu trúc A: giữ 1,8 tỷ. Cấu trúc B: trả ông T. 1,0 tỷ, bằng giá giám đốc thuê ngoài, và chuyển 0,8 tỷ cho 40 nhân viên thấp lương nhất, mỗi người thêm 20 triệu, khoảng 24%. Tổng chi không đổi. Ông T. đã giữ 60% lợi nhuận nên khoản vượt báo giá không mua thêm động lực. Với số liệu này B khả thi và A không qua phép thử, nhưng chỉ dựa trên một báo giá.
| Lập luận | Ông T. nói | Số liệu giả định cho thấy | Còn đứng không |
|---|---|---|---|
| Tài năng | Giỏi nhất vùng | Thị trường trả 1,0 tỷ cho người tương đương | Chỉ tới 1,0 tỷ |
| Nỗ lực | 60 giờ mỗi tuần, bảo lãnh 5 tỷ | Rủi ro có thật; theo cách đọc của tôi, nó được trả qua 60% lợi nhuận, không qua lương | Một phần |
| Đóng góp | Ba khách lớn nhất do ông mở | Ông nghỉ hai tháng năm ngoái, doanh thu chỉ lệch 3% | Yếu đến vừa |
| Động lực | Lương cao giữ ông ở lại | Ông đã giữ 60% nên không cần thêm | Chỉ tới 1,0 tỷ |
Kết quả là một quyết định, không phải phán quyết. Hội đồng có thể giữ 1,8 tỷ nhưng để bà M. xem ba báo giá và bỏ phiếu, hoặc hạ xuống 1,0 tỷ và tăng lương nhóm thấp nhất. Phép thử buộc người đặt lương đặt số liệu lên bàn trước một người không phụ thuộc vào ông.
Thể chế có đặt trần chênh lệch bằng quy tắc được không?
Báo cáo thường niên 2023 của tập đoàn hợp tác xã Mondragon (Tây Ban Nha) ghi thang lương từ 1 đến 6 giữa mức tối thiểu và tối đa (MONDRAGON Corporation, 2023, p. 8). Đó là tự báo cáo và đo giữa mức thấp nhất và cao nhất, không phải CEO so với công nhân trung bình, nên không so được với số của EPI. Hai trang tôi đọc không cho biết mức chênh thực tế; ca Mondragon của thư viện ghi các nguồn khác nêu số khác. Xem ca Mondragon.
Đào sâu: tôi đã đọc gì, chưa đọc gì?
EPI, "CEO pay declined in 2023" (Bivens, Gould và Kandra, 19/9/2024; thư viện ghi tựa "CEO pay in 2023"): tôi đọc bản PDF 18 trang. Số trang là số trang in; bìa và trang tổng quan không đánh số.
Rawls (2001): tôi đọc đoạn trích chương một (§1 và đầu §2) đăng trên New York Times, và mục lục sách trên một trang bán sách. Hai nguyên tắc và bức màn vô minh tôi lấy từ văn bản framework của thư viện, chưa đối chiếu với sách.
Boatright, Moriarty, Scanlon, Dietsch, Edmans và Gabaix (2009): chỉ phần tóm tắt. Gabaix và Landier: trang tóm tắt và phần giới thiệu của bản working paper tháng 7/2006, không phải bản đăng năm 2008, nên không dẫn số trang. Mondragon 2023: các trang 7 và 8. Các phản biện trong bảng thư viện tôi chuyển lại, chưa kiểm.
Hỏi nhanh
Thù lao "thực nhận" và "được trao" khác nhau thế nào?
Cả hai đều gồm lương, thưởng và thưởng dài hạn. Khác nhau ở cổ phiếu và quyền chọn: thước "thực nhận" tính theo giá trị lúc quyền chọn được thực hiện hoặc cổ phiếu được trao hẳn, thước "được trao" tính theo giá trị ước lượng lúc cấp, bằng mô hình Black-Scholes (Economic Policy Institute, 2024, p. 3, 4). EPI nói không thước nào đo chính xác CEO "kiếm" bao nhiêu trong một năm, nên báo cả hai (Economic Policy Institute, 2024, p. 4).
Công ty niêm yết ở Mỹ có phải tự công bố tỷ lệ này không?
Có một dạng khác. Theo EPI, luật Dodd-Frank 2010 buộc công ty đại chúng báo cho SEC tỷ lệ giữa thù lao CEO và công nhân trung vị của chính công ty, nhưng công ty được tự chọn cách tính nên khó so giữa các công ty (Economic Policy Institute, 2024, p. 8). Đó là quy định của Mỹ. Bài này không bàn về quy định ở Việt Nam, bạn cần hỏi luật sư hoặc kế toán.
Có mức chênh nào được coi là hợp lý không?
Trong các nguồn tôi đọc, không nguồn nào đưa ngưỡng. Con số 21 của năm 1965 hay thang 1-6 của Mondragon là mô tả, không phải chuẩn đạo đức. Phép thử chỉ đòi điều kiện: chênh lệch phải qua được quy trình, cơ hội và so sánh khả thi. Vì thế bài hỏi "ai đặt lương" trước khi hỏi "bao nhiêu".
Chủ vừa sở hữu vừa điều hành tự trả lương cho mình có sai không?
Bài không kết luận. Boatright (2010) nói lương cao có thể biện minh nếu một số điều kiện được đáp ứng, trong đó có việc thương lượng giữa CEO và cổ đông không có gian lận hay vi phạm nghĩa vụ uỷ thác (Boatright, 2010). Theo cách đọc của tôi, khi một người sở hữu 100% thì không còn cổ đông nào bị thiệt; khi có cổ đông thiểu số, câu hỏi quay lại. Tôi không có nguồn nào về quy định ở Việt Nam.
Tài liệu tham khảo
Xếp A–Z theo họ tác giả, kiểu Harvard. Nguồn có DOI thì link https://doi.org/…; nguồn không có DOI thì link trang nguồn hoặc ghi rõ không có DOI.
- Boatright, J.R. (2010) ‘Executive compensation: unjust or just right?’, in The Oxford handbook of business ethics. Oxford: Oxford University Press, pp. 161–201.doi:10.1093/oxfordhb/9780195307955.003.0007Được trích trong 1 bài
- Dietsch, P. (2008) ‘Distributive lessons from division of labour’, Journal of Moral Philosophy, 5(1), pp. 96–117.doi:10.1163/174552408x306744Được trích trong 1 bài
- Economic Policy Institute (2024) CEO pay in 2023. Washington, DC: Economic Policy Institute.Không có DOIepi.orgĐược trích trong 1 bài
- Edmans, A. and Gabaix, X. (2009) ‘Is CEO pay really inefficient? A survey of new optimal contracting theories’, European Financial Management, 15(3), pp. 486–496.doi:10.1111/j.1468-036x.2009.00500.xĐược trích trong 1 bài
- Gabaix, X. and Landier, A. (2008) ‘Why has CEO pay increased so much?’, The Quarterly Journal of Economics, 123(1), pp. 49–100.doi:10.1162/qjec.2008.123.1.49Được trích trong 1 bài
- MONDRAGON Corporation (2023) Annual Report 2023. Mondragón: MONDRAGON Corporation (MONDRAGON annual reports).Không có DOImondragon-corporation.comĐược trích trong 1 bài
- Moriarty, J. (2009) ‘How much compensation can CEOs permissibly accept?’, Business Ethics Quarterly, 19(2), pp. 235–250.doi:10.5840/beq200919212Được trích trong 1 bài
- Rawls, J. (2001) Justice as fairness: a restatement. Cambridge, MA: Harvard University Press.doi:10.2307/j.ctv31xf5v0Được trích trong 1 bài
- Scanlon, T.M. (2013) ‘Giving desert its due’, Philosophical Explorations, 16(2), pp. 101–116.doi:10.1080/13869795.2013.787437Được trích trong 1 bài

Bài này có ích với bạn không?
Chưa có lượt chấm nào.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận, hãy là người đầu tiên.