A dua
Xu hướng mô hình chỉnh câu trả lời cho hợp ý người hỏi thay vì bám sự thật.
Định nghĩa ngắn, viết bằng lời của Khôi. Mỗi thuật ngữ có địa chỉ riêng (thuat-ngu#tên-mục), nguồn khi có, và danh sách bài đã nhắc tới.
587 thuật ngữ
Xu hướng mô hình chỉnh câu trả lời cho hợp ý người hỏi thay vì bám sự thật.
Hệ thống trong đó mô hình tự quyết bước tiếp theo và dùng công cụ trong vòng lặp để đạt mục tiêu.
Nhân viên tự dùng công cụ AI chưa được duyệt, tạo rủi ro bảo mật và dữ liệu cho tổ chức.
Hướng tiếp cận chú trọng nơi lưu dữ liệu, an ninh quốc gia và tuân thủ luật địa phương.
Dùng AI làm mặc định để tăng tốc nhưng giữ trách nhiệm cuối cùng ở con người, nhất là khi liên quan dữ liệu nhạy cảm, chất lượng mã và cam kết khách hàng.
Hệ thống học từ dữ liệu có nhãn để phân loại, phát hiện hoặc dự báo, như lọc thư rác hay chấm điểm tín dụng.
Nhóm hệ thống học quy luật từ lượng dữ liệu lớn rồi tạo nội dung mới: văn bản, hình, âm thanh, mã.
AI cảm nhận và hành động trong thế giới thật, như robot và kho tự động.
Phần lợi suất của quỹ vượt mức CAPM dự đoán theo beta; dương cho thấy giá trị quản lý tạo thêm.
Ý kiến, đánh giá và hành vi của người khác ảnh hưởng quyết định mua; eWOM là mọi nhận xét tích cực hoặc tiêu cực về thương hiệu trên mạng.
Niềm tin chung rằng nhóm là nơi an toàn để nói ra rủi ro, đặt câu hỏi hay thừa nhận sai sót mà không bị trừng phạt. Frazier và cộng sự tổng hợp thấy nó gắn với học hỏi và hiệu suất; O'Donovan và McAuliffe rà soát các biện pháp cải thiện.
Mô hình sinh nội dung nghe hợp lý nhưng sai sự thật hoặc không có trong nguồn.
Nhà khởi nghiệp xã hội được mạng lưới Ashoka bầu chọn và hỗ trợ.
Ý tưởng đo thành công công ty bằng ba mặt: tài chính, xã hội, môi trường. Norman và MacDonald cho rằng phần đúng thì không mới, phần mới thì không vững.
Mỗi người có lý do cá nhân để làm điều khiến tất cả tệ hơn (ví dụ chấp nhận làm thêm giờ), nên cần quy tắc chung để đạt kết quả mà từng người không tự bảo đảm được.
Chủ sở hữu và người điều hành tách biệt nên lợi ích có thể lệch; chủ sở hữu không giám sát hoàn hảo hành vi của người điều hành.
Tài liệu ngắn mô tả bạn, công ty, văn phong và vùng cấm, nạp sẵn cho trợ lý để khỏi giải thích lại.
Văn bản ghi mục tiêu lợi suất, khẩu vị rủi ro, thời hạn, nhu cầu thanh khoản và ràng buộc pháp lý–thuế của nhà đầu tư.
Cách bán ưu tiên quan hệ dài hạn và chứng minh giá trị liên tục thay vì giao dịch một lần.
Để khách tự quyết theo nhịp của họ, hỗ trợ bằng đánh giá, lời chứng thực và ca khách hàng thay vì thúc ép.
Dùng nền tảng như LinkedIn để tìm, tiếp cận và xây quan hệ với khách theo cách cá nhân hoá, thay cho gọi lạnh.
Khung mô tả thế giới giòn, lo âu, phi tuyến và khó hiểu, đề xuất thay cho VUCA.
Bán nâng cấp là mời khách lên gói cao hơn; bán chéo là mời mua thêm sản phẩm bổ trợ.
Bảo hộ tự động cho cách thể hiện gốc đã được cố định, không bảo hộ ý tưởng.
Người tham gia thị trường theo đuổi lợi ích riêng, qua cơ chế giá, vô tình thúc đẩy lợi ích chung.
Mọi thứ nằm giữa nguyên liệu và thành phẩm: đang gia công, đang chuyển hoặc xếp hàng chờ ở một trạm.
Hãng tự bán cho khách, không qua đại lý hay nhà phân phối, để nắm quan hệ và dữ liệu khách hàng.
Bộ báo cáo kết quả, bảng cân đối và lưu chuyển tiền dự kiến, nhất quán với nhau qua đẳng thức kế toán.
Đánh giá thay đổi phải có từ đầu: trước (nêu hiện trạng và mục tiêu), trong (kiểm tra mốc, sửa lệch) và sau (đánh giá kết quả); đo lường cần được thiết kế ngay khi xây can thiệp.
Người lạc quan cho rằng văn hoá đổi được, người bi quan cho rằng không, người thực tế cho rằng chỉ đổi được một phần; không có đồng thuận, nhà quản lý phải chọn theo hoàn cảnh.
Sản xuất thừa, chờ đợi, vận chuyển, gia công thừa, tồn kho thừa, thao tác thừa, lỗi.
Cơ quan quản lý hành động theo lợi ích của nhóm được quản lý hoặc nhóm chính trị thay vì lợi ích công.
Cách nhìn bất bình đẳng thu nhập qua việc các cơ hội không ngang nhau; bài đề xuất xem MNE tác động thế nào trực tiếp và qua chính sách nhà nước.
Một bên biết nhiều hơn bên kia về chất lượng hay rủi ro, nên có thể khai thác bên kia, ví dụ quảng cáo gây hiểu lầm.
Tình huống không biết cả phân phối xác suất của kết quả. Khác với rủi ro, vốn có thể ước lượng và bảo hiểm.
Người lao động phụ thuộc vào người sử dụng lao động nhiều hơn chiều ngược lại, nên sự đồng ý với giám sát khó được coi là hoàn toàn tự nguyện.
Trạng thái căng thẳng tâm lý khi niềm tin và hành động mâu thuẫn nhau; con người giải toả bằng đổi hành động hoặc hợp lý hoá niềm tin. Niềm tin chỉ đổi thật khi người đó có quyền lựa chọn.
Các chi phí phát sinh chỉ vì doanh nghiệp hoạt động ở nước khác: khoảng cách địa lý, chưa hiểu thị trường, thiếu quan hệ, và bị đối xử khác biệt. Zaheer cho rằng có thể giảm bất lợi này bằng cách sao chép thủ tục từ công ty mẹ hay sao chép theo đối thủ địa phương.
Rủi ro khi MNE dựa gần như hoàn toàn vào đối tác địa phương: thiếu kết nối với nhiều bên khác nên chậm nhận ra và chậm đáp lại sự thù địch.
Tìm và trọng thị bằng chứng ủng hộ ý kiến sẵn có, bỏ qua bằng chứng ngược.
Chọn theo hướng biện hộ cho quyết định cũ dù chi phí đã mất không còn liên quan.
Đánh giá khả năng xảy ra theo việc sự kiện dễ gợi lại, không theo tần suất thật.
Thiên về giữ nguyên vì hành động kéo theo trách nhiệm và hối tiếc.
Văn hoá mạnh giúp hành động nhất quán nhưng có thể khiến tổ chức khó thích ứng với một số loại thay đổi và chỉ hợp ở một số giai đoạn phát triển.
Đặc điểm trông trung tính nhưng tương quan với một thuộc tính được bảo vệ, nên thuật toán dùng nó vẫn gây phân biệt gián tiếp.
Khi nhiều người cùng dùng một nguồn lực chung khan hiếm, mỗi người chạy theo lợi ích riêng thì nguồn lực cạn kiệt; cần quy tắc hoặc hành động tập thể.
Một bên chiếm lợi thế không công bằng từ sự dễ tổn thương của bên kia, và bên kia chấp nhận chỉ vì không còn lựa chọn khác. Một giao dịch có lợi cho cả hai vẫn có thể là bóc lột.
Dự án GLOBE nghiên cứu 62 xã hội và mô tả văn hoá theo chín chiều, đồng thời xem kiểu lãnh đạo nào được coi là hiệu quả ở mỗi nơi. Dùng để suy nghĩ về khác biệt vùng, không phải để dán nhãn từng cá nhân.
Mười bảy mục tiêu toàn cầu, được các nước thành viên Liên hợp quốc thông qua năm 2015, làm lộ trình chung cho hoà bình và thịnh vượng; không có cơ chế cưỡng chế.
Dùng trung bình mô tả từng cá nhân, dù hiếm ai khớp trung bình.
Bức tranh đầy đủ về một khách hàng, ghép từ nhiều dòng dữ liệu: web, mua hàng, mạng xã hội, thiết bị.
Nhận thức chung rằng phải hành động ngay, dựa trên thực tế thị trường, cạnh tranh hoặc cơ hội; thiếu nó thì các bước sau thường không có người ủng hộ.
Mức nhân viên thật sự muốn thay đổi thành công, không chỉ tuân thủ; nghiên cứu tại ba ngân hàng cho thấy chú ý vào con người và tổ chức khi triển khai CRM gắn với kết quả tốt hơn.
Khảo sát cảm nhận đo niềm tin của người trả lời; có nghiên cứu cho thấy nó khớp kém với kết quả khách quan, nên cần đối chiếu.
Hệ thống tự điều chỉnh thông điệp, đề xuất và trải nghiệm theo từng người dựa trên dữ liệu về sở thích và hành vi của họ.
Mức độ bản sắc đến từ đặc điểm cá nhân hay từ nhóm mình thuộc về; ở môi trường tập thể, tác động đồng đội khuếch đại cả ủng hộ lẫn kháng cự.
Vấn đề làm cho AI hành động phù hợp với giá trị con người. Thách thức là chọn nguyên tắc công bằng trong bất đồng đạo đức, không tìm “thuyết đạo đức đúng”.
Nhà cung cấp cấp 1 giao trực tiếp cho công ty, cấp 2 giao cho cấp 1, và cứ thế lùi về nguyên liệu thô. Rủi ro thường nằm ở các cấp sâu hơn.
Cho đối tác nước ngoài quyền sản xuất theo tài sản trí tuệ của mình để nhận phí; đổi lại giảm kiểm soát.
Một câu ngắn nêu cho ai, thương hiệu là gì, khác đối thủ ở điểm nào và vì sao tin được. Dùng làm la bàn cho mọi thông điệp.
Biểu đồ cho thấy từng mảng cộng hay trừ bao nhiêu để đi từ điểm đầu tới kết quả cuối.
Cách các thiết chế chính trị, pháp lý, kinh tế chủ chốt ăn khớp thành hệ thống hợp tác xã hội và phân chia lợi ích. Công lý đánh giá cấu trúc này trước, giao dịch riêng lẻ sau.
Sơ đồ chia một vấn đề lớn thành các nhánh nhỏ hơn sao cho mỗi lá là một giả thuyết có thể kiểm chứng bằng dữ liệu.
Danh mục phân cấp mọi vật liệu và số lượng cần cho một sản phẩm.
Chấm các phương án theo tiêu chí có trọng số, rồi đổi trọng số hoặc điểm để xem thứ hạng có đảo ngược không.
Xếp hạng khách tiềm năng theo khả năng chuyển đổi để đội bán hàng ưu tiên.
Hồ sơ hư cấu nhưng dựa trên nghiên cứu về một khách hàng tiêu biểu, giúp nhóm thiết kế đề xuất giá trị. Không phải một người có thật.
Dữ liệu có thể thiếu cả bản ghi lẫn từng trường, hoặc bị méo giá trị; phải xử lý trước khi phân tích.
Mức độ mà bản chất công nghệ và hệ thống pháp lý cho phép người đổi mới giữ phần lợi ích mình tạo ra. Chế độ chặt khi sao chép khó, chế độ lỏng khi sao chép dễ, và điều đó quyết định ai thu được lợi nhuận.
Chiến lược trả lời ba câu hỏi: ta đang ở đâu (bối cảnh), muốn đi đâu (tầm nhìn, nội dung) và đi bằng hành động nào (quá trình thực hiện).
Chiến lược là hướng đi dài hạn và cách phân bổ nguồn lực để thắng; chiến thuật là hành động ngắn hạn phục vụ hướng đó; vận hành là công việc lặp lại hằng ngày. Gọi mọi quyết định là 'chiến lược' làm mờ ranh giới trách nhiệm.
Sau khi phân khúc, doanh nghiệp chọn phục vụ một phân khúc tập trung hay nhiều phân khúc bằng các sản phẩm khác nhau, tuỳ nguồn lực và mục tiêu.
Chiến lược thực tế thường là hỗn hợp: một phần do ban lãnh đạo chủ định, một phần nảy sinh từ tình huống và va chạm trong tổ chức.
Cách doanh nghiệp quản lý bối cảnh xã hội, chính trị, pháp lý, như vận động chính sách, để cải thiện kết quả kinh doanh.
Đối xử với người khác chỉ như công cụ cho mục đích của mình mà không coi trọng mục đích và phẩm giá của họ. Dùng người như phương tiện vẫn có thể chấp nhận nếu họ cũng được tôn trọng như mục đích.
Lợi suất kỳ vọng của phương án đầu tư khác có cùng mức rủi ro. Đây là ngưỡng một dự án phải vượt qua, không phải lãi vay.
Tổng chi phí giám sát, cam kết và phần mất mát còn lại khi người quản lý hành động không hoàn toàn vì chủ sở hữu.
Chi phí tìm kiếm, thương lượng và giám sát khi mua qua thị trường thay vì tự làm trong doanh nghiệp.
Khi thiếu hụt tốn kém hơn dư thừa nhiều lần (mất doanh thu so với tiền thuê kho), nên chủ động chọn phía rẻ hơn của sai lệch.
Thiệt hại thực tế nếu một output sai được dùng; đo trước khi quyết định giao việc cho AI.
Tổng chi phí marketing và bán hàng trong kỳ chia cho số khách mới có được trong kỳ đó.
Bình quân chi phí vốn chủ và chi phí nợ sau thuế theo tỷ trọng giá trị thị trường; dùng làm lãi suất chiết khấu cho dự án cùng mức rủi ro.
Chỉ số "mềm" như trình độ nhân sự hay điểm bền vững báo trước kết quả lợi nhuận kỳ sau.
Tỷ số giữa giá mua cộng chi phí không đạt chuẩn và giá mua; giá trị càng gần 1 càng tốt.
Lợi suất vượt mức phi rủi ro chia cho độ biến động tổng; càng cao, mỗi đơn vị rủi ro sinh nhiều lợi suất hơn.
Biến thay thế trông khách quan nhưng không phản ánh đúng thứ cần đo, và kéo sự chú ý về chính nó.
Cả nhóm cùng chịu trách nhiệm trả nợ. Cách này thay thế tài sản thế chấp nhưng bị phê bình vì gây ăn theo và thu hút người vay rủi ro cao.
Vay trực tiếp giữa cá nhân qua nền tảng trực tuyến, không qua ngân hàng.
Chống chịu vốn có là khả năng của chuỗi trong điều kiện bình thường; chống chịu thích ứng là khả năng điều chỉnh khi điều kiện bất thường.
Quá trình biến trải nghiệm và năng lực của một nhóm thành chuẩn để đánh giá mọi người, làm nhóm khác bị coi là lệch chuẩn.
Số ngày tồn kho cộng số ngày thu tiền trừ số ngày trả tiền; càng ngắn, doanh nghiệp càng ít tiền bị kẹt.
Mô hình mô tả kỳ vọng với một công nghệ mới tăng vọt, vỡ mộng rồi ổn định theo năng suất thực.
Nước giàu đưa rác và chất thải nguy hại sang nước nghèo, đẩy gánh nặng sức khoẻ và môi trường cho cộng đồng yếu thế.
Thuật ngữ chưa có định nghĩa thống nhất, chỉ nhiều hình thức nhà nước tham gia kinh tế: doanh nghiệp nhà nước, quỹ đầu tư quốc gia, quan hệ nhà nước – doanh nghiệp.
Chuỗi cung ứng bền vững về lợi thế cần ba phẩm chất cùng lúc: nhanh nhạy, thích ứng và đồng bộ lợi ích giữa các bên.
Chuỗi ưu tiên tốc độ và linh hoạt: giữ công suất và tồn kho dự phòng, nhà cung cấp linh hoạt; hợp với nhu cầu khó đoán.
Chuỗi ưu tiên chi phí thấp: dùng công suất cao, tồn kho tối thiểu, nhà cung cấp rẻ; hợp với nhu cầu dễ đoán.
Mô hình gộp nhanh nhạy, chống chịu và bền vững để chuỗi tồn tại và thích nghi qua cả cú sốc lẫn biến đổi dài hạn.
Sổ cái phân tán ghi và xác minh giao dịch trên nhiều máy tính; dùng cho truy xuất nguồn gốc nhưng nhiều khi cơ sở dữ liệu thường là đủ.
Dùng hiểu biết thị trường và mạng lưới phản ứng nhanh để khai thác cơ hội trong thị trường biến động.
Chia một việc thành các bước nối tiếp, đầu ra bước trước làm đầu vào bước sau, có thể chèn điểm kiểm.
Cách làm cho mô hình trình bày các bước lập luận trung gian trước khi đưa kết luận.
Dãy quan sát ghi theo thứ tự thời gian, thường cách đều (doanh thu tháng, CPI).
Thiết kế dòng giá trị để loại mọi lãng phí, kể cả thời gian, và giữ lịch ổn định.
Nỗ lực của nhà nước giành quyền tự quyết về hạ tầng, dữ liệu và công nghệ số, giảm lệ thuộc bên ngoài.
Bốn việc làm liên tục: quét tín hiệu, theo dõi xu hướng cụ thể, dự báo hệ quả và đánh giá thời điểm lẫn tác động lên doanh nghiệp.
Đổi một khoản lỗ lớn nhưng bất định lấy khoản phí nhỏ chắc chắn nhờ gộp rủi ro của nhiều người.
Chương trình thưởng điểm hoặc ưu đãi để khuyến khích mua lại và thu dữ liệu hành vi của khách.
Thiết kế để người kiểm, sửa hoặc duyệt tại các điểm quyết định trước khi kết quả AI có hiệu lực.
Con số hay được trích rằng khoảng 70% chương trình thay đổi thất bại. Nhiều tài liệu lặp lại nó, nhưng cơ sở thực nghiệm đáng ngờ; cần xem bài phản biện trước khi dùng như một sự thật.
Công bằng thủ tục áp dụng cùng quy tắc cho mọi người; công bằng thực chất can thiệp vào kết quả và tác động xã hội. Ở xã hội bất công, riêng thủ tục có thể giữ nguyên bất công.
Nghĩa vụ nói rõ khi một bài đăng là nội dung được tài trợ; nghiên cứu cho thấy công bố làm người xem nhận ra ý đồ thuyết phục.
Quan niệm doanh nghiệp quốc tế có trách nhiệm cải thiện phúc lợi người dân nơi mình hoạt động, vượt khỏi điều kiện làm việc trực tiếp.
Một hành động có thể thúc đẩy mục tiêu này nhưng làm yếu mục tiêu khác; phải nhìn cả hai chiều thay vì chọn SDG theo thiện cảm.
Việc dùng công nghệ để cải thiện dịch vụ tài chính: thanh toán, cho vay, bảo hiểm, tuân thủ, quản lý tài sản.
Công suất thiết kế là mức tối đa lý tưởng; hiệu dụng đã trừ dừng máy, đổi chuyền. Sử dụng so với thiết kế, hiệu suất so với hiệu dụng.
Công ty mẹ sở hữu toàn bộ chi nhánh nước ngoài: kiểm soát tối đa nhưng cần vốn lớn.
Người có cùng năng lực và nỗ lực phải có cùng triển vọng, bất kể giai tầng xuất thân. Cần giáo dục và y tế thực chất, không chỉ quyền cạnh tranh trên giấy.
Khả năng kiếm lợi nhuận kinh tế từ một khoảng trống hay sự bất toàn của thị trường.
Ba chỉ số quảng cáo: tỷ lệ nhấp trên lượt hiển thị, chi phí mỗi lượt nhấp, và doanh thu thu về trên mỗi đồng chi cho quảng cáo.
Giá trị phi tài chính chủ gia đình cảm nhận được, như tên họ, gắn bó và uy tín, ảnh hưởng quyết định.
Khảo sát hơn 23.000 quản lý và nhân viên ở 13 nước cho thấy nhóm Anh–Mỹ–Úc–Canada (phần lớn có Ấn Độ) giống nhau, Nhật và Ý tạo nhóm khác biệt.
Cách GLOBE nhóm các quốc gia có điểm văn hoá gần nhau thành mười cụm, ví dụ Anglo hay Châu Á Nho giáo; công cụ so sánh nhanh nhưng không thay cho phân tích từng tổ chức.
Hệ thống Rawls ưa thích: phân tán tài sản sản xuất và vốn con người rộng rãi từ đầu, thay vì chỉ bù đắp thu nhập sau khi bất bình đẳng đã hình thành.
Doanh nghiệp dùng thuật toán và phân loại hợp đồng để chuyển rủi ro (nhu cầu biến động, tổn thất, chi phí xe) sang người lao động.
Câu hỏi liệu ngành gây ô nhiễm có chuyển sang nước tiêu chuẩn môi trường thấp. Một nghiên cứu năm 1992 thấy các ngành này chiếm phần xuất khẩu ngày càng lớn ở vài nước đang phát triển nhưng không quy được chủ yếu cho chính sách môi trường.
Doanh nghiệp mà quyết định chịu ảnh hưởng của nhiều thế hệ trong một gia đình, thường là chủ sở hữu kiểm soát.
Doanh nghiệp tìm lợi thế từ việc dùng nguồn lực và bán sản phẩm ở nhiều nước ngay từ khi thành lập.
Doanh nghiệp có tầm nhìn thị trường toàn cầu và làm ăn quốc tế ngay từ đầu.
Cách gọi khác của INV: quốc tế hoá rất sớm, không đi qua từng bước chậm như mô hình Uppsala.
Doanh nghiệp quy mô nhỏ hoặc vừa; ngưỡng cụ thể tuỳ nước.
Tổ chức kinh doanh với nguồn thu từ thị trường nhằm theo đuổi mục tiêu xã hội, khác tổ chức thuần phi lợi nhuận.
Doanh nghiệp giải quyết vấn đề xã hội, nhà đầu tư chỉ lấy lại vốn gốc, lợi nhuận giữ lại để mở rộng.
Thay đổi doanh số của các cửa hàng đã hoạt động đủ lâu, tách khỏi hiệu ứng mở thêm cửa hàng; có thể tách thành giao dịch và giá trị hoá đơn.
Dòng tiền hoạt động trừ chi đầu tư tài sản cố định; phần tiền có thể trả nợ, trả cổ tức hoặc giữ lại.
Tiền thật sự sinh ra từ hoạt động cốt lõi; chia cho lợi nhuận ròng cho biết lợi nhuận có chuyển thành tiền hay không.
Khả năng mô hình gọi chức năng bên ngoài (tìm kiếm, truy vấn, gửi email) và đọc kết quả trả về.
Ước lượng quan hệ giữa biến cần dự báo và các yếu tố tác động để giải thích nguyên nhân chênh lệch.
Dự báo được cập nhật theo chu kỳ cố định, luôn nhìn về một số kỳ phía trước thay vì chờ ngân sách năm sau.
Thay vì dựng dự báo từ giả định riêng, lấy phân phối kết quả thực của các dự án tương tự làm điểm xuất phát.
Con số trần là dữ liệu; có mốc so sánh và ngữ cảnh thì thành thông tin; gộp nhiều nguồn theo thời gian để quyết định thì thành tri thức.
Chia vốn vào nhiều tài sản ít tương quan để giảm rủi ro mà không nhất thiết giảm lợi suất kỳ vọng.
Đại dương đỏ là cạnh tranh trực diện trên thị trường đã có; đại dương xanh là tạo khoảng thị trường mới để đỡ phải cạnh tranh giá.
Khách di chuyển tự nhiên giữa kênh số và kênh vật lý trong một hành trình mua; thương hiệu phải giữ thông điệp, dữ liệu và dịch vụ đồng nhất.
Tìm giải pháp phục vụ lợi ích thật của cả hai phía thay vì cò kè lập trường.
Quy mô lớn giúp giảm chi phí thời bình; thêm công suất và linh hoạt để phòng bất thường thường làm mất một phần hiệu quả đó.
So sánh mô hình theo cấp phân tích, tính tuần tự, thế mạnh và giới hạn, rồi chọn tổ hợp phù hợp bối cảnh; khác với liệt kê từng mô hình.
Lập luận rằng đạo đức của Aristotle và Khổng Tử có chung cấu trúc nền, nên đạo đức Đông – Tây không nhất thiết không thể dung hoà.
Đánh giá hành động theo tổng hậu quả tốt trừ xấu. Thuyết vị lợi là dạng cụ thể: tối đa hoá tổng phúc lợi, tính mọi người ngang nhau.
Hành động đúng hay sai tuỳ vào việc nó có tôn trọng quyền, phẩm giá và tự chủ của con người hay không, không tuỳ vào kết quả.
Quy định của Liên minh châu Âu đặt luật hài hoà cho AI; doanh nghiệp bán sang EU cần theo dõi.
Đặc điểm là xu hướng tương đối ổn định (như hướng ngoại, tận tâm); kỹ năng là năng lực học và rèn được. Stogdill rà soát thấy đặc điểm một mình không đủ; DeRue và cộng sự cho thấy đặc điểm và hành vi cùng giải thích hiệu quả lãnh đạo.
Chín nhóm đặc điểm mà luật Anh cấm phân biệt đối xử: tuổi, khuyết tật, chuyển đổi giới tính, hôn nhân/kết hợp dân sự, thai sản, chủng tộc, tôn giáo/niềm tin, giới tính, xu hướng tính dục.
Khách đặt hàng trực tuyến rồi nhận tại cửa hàng, nối kênh số với kênh vật lý và tạo cơ hội bán thêm tại chỗ.
Chủ động tìm cách vượt chỉ số bằng chọn mã và canh thời điểm; thụ động bám chỉ số với chi phí thấp.
Đầu tư xét cả ESG và đạo đức; vừa là sản phẩm tài chính vừa là cách tương tác với doanh nghiệp để cải thiện tác động xã hội và môi trường.
Đưa yếu tố môi trường, xã hội, quản trị vào quyết định đầu tư, bằng loại trừ, tích hợp hoặc nhắm tác động cụ thể.
Đầu tư giành quyền kiểm soát hoạt động kinh doanh ở nước khác.
Công ty tự lập công ty con ở nước ngoài và xây hoạt động từ đầu, được nhiều quyền kiểm soát nhưng tốn vốn và thời gian.
Lời hứa giá trị mà chỉ thương hiệu này đưa ra được cho nhóm khách mục tiêu, và là kết quả của một định vị tốt.
Một công nghệ, cảng, vùng hay nhà cung cấp mà nếu hỏng thì cả chuỗi dừng.
Điểm trong dòng vật liệu mà đơn hàng thật chạm tới; trước đó chạy theo dự báo.
Quy định gắn với rủi ro của cả hệ thống, ví dụ yêu cầu vốn tăng theo rủi ro hệ thống, thay vì chỉ theo sức khoẻ từng tổ chức.
Đặt giá thấp lúc vào thị trường để nhanh chóng giành khách và thị phần.
Với thị trường vốn hoàn hảo, doanh nghiệp chọn mọi dự án có NPV dương mà không cần biết sở thích tiêu dùng của từng cổ đông.
Khi còn nhiều thất bại thị trường, sửa riêng một thất bại có thể không làm hệ thống hiệu quả hơn.
Vị trí mà thương hiệu chiếm trong tâm trí khách hàng so với đối thủ. Định vị là việc làm với khách hàng, không phải việc làm với sản phẩm.
Dùng nhận dạng ký tự để chuyển hoá đơn giấy hoặc ảnh thành dữ liệu nhập sổ.
Một biến đã gần mục tiêu nên chi thêm tiền gần như không tạo thêm giá trị; nên chuyển nguồn lực sang điểm nghẽn mới.
Điểm khảo sát tự báo cáo có thể phản ánh tính cách và cách đặt câu hỏi, không chỉ sự việc ở nơi làm việc.
Cải tiến sản phẩm theo tiêu chí mà khách hàng chính thống vẫn coi trọng.
Đổi mới là làm việc đã có theo cách mới; không nhất thiết phải có công nghệ mới về khoa học. Phát minh tạo ý tưởng, đổi mới đưa nó vào đời sống.
Thay đổi cách doanh nghiệp tạo, phân phối và thu giá trị: doanh thu, quan hệ khách hàng hoặc hoạt động chính.
Đổi mới bắt đầu ở phân khúc thấp hoặc ngách bằng thứ đơn giản, rẻ hơn rồi vươn lên thay thế đối thủ lớn.
Ba hướng đổi mới: cải tiến sản phẩm, cải tiến cách làm để giảm chi phí, và cải tiến cách tổ chức, quản lý.
Giải pháp mới, thường là tổ hợp lại các yếu tố có sẵn, đáp ứng nhu cầu mà thị trường và nhà nước bỏ quên.
Thước đo độ phân tán của lợi suất quanh trung bình; coi biến động lên và xuống như nhau nên chưa phản ánh tâm lý ngại thua lỗ.
Cùng một nguyên tắc chính trị được những người có quan điểm đạo đức khác nhau chấp nhận vì những lý do riêng của họ.
Sự đồng ý chỉ có giá trị đạo đức khi tự do (không ép buộc), có hiểu biết và có lựa chọn thay thế thực sự. Thiếu một điều kiện là yếu đi toàn bộ.
Thay đổi càng chạm sâu vào bản sắc cá nhân, từ cấu trúc, công việc, quan hệ đến nhân cách và định hướng đời sống, thì mức kháng cự tiềm tàng càng cao.
Mỗi công đoạn chỉ làm đúng loại và lượng công đoạn sau cần, đúng lúc cần.
Tập các danh mục có lợi suất kỳ vọng cao nhất ở mỗi mức rủi ro; danh mục nằm dưới đường này là kém hiệu quả.
Quan sát rằng nước có bất bình đẳng thu nhập cao thì mức dịch chuyển xã hội giữa các thế hệ thấp hơn.
Tiêu chí môi trường, xã hội, quản trị dùng để đánh giá doanh nghiệp. Mối liên hệ nhân quả với lợi nhuận vẫn bị tranh cãi.
Người hợp lý vẫn bất đồng về đạo đức vì khó cân nhắc các giá trị; vì vậy niềm tin cá nhân không đủ để biện minh cưỡng chế chính trị.
Dựa quá nhiều vào một mạng quen biết có thể chặn thông tin mới và làm giảm hiệu quả.
Cho khoản mất nặng hơn khoản được tương đương, nên quản lý hay né rủi ro dù kỳ vọng dương.
Vai trò điều hành còn mới, dẫn dắt chuyển đổi bền vững; nhiệm vụ và đường báo cáo thường chưa rõ.
Chuẩn mở để kết nối ứng dụng AI với công cụ và nguồn dữ liệu bên ngoài.
Giả định mặc định rằng không có khác biệt hay liên hệ; kiểm định tìm bằng chứng đủ mạnh để bác bỏ nó.
Quan điểm cho rằng chính quyền chuyên chế thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh hơn dân chủ. Sen cho rằng không có bằng chứng tổng quát thuyết phục.
Mức lỗ tối đa dự kiến trong một khoảng thời gian ở một độ tin cậy cho trước. Không phải thước đo rủi ro nhất quán vì có thể vi phạm tính cộng gộp.
Ý tưởng rằng doanh nghiệp có thể tạo lợi ích xã hội ngay trong cách tạo lợi nhuận; cần đọc kèm các phê bình về win-win quá dễ.
Tổng dòng tiền tương lai quy về hiện tại theo chi phí vốn, trừ vốn đầu tư ban đầu. NPV dương nghĩa là dự án tạo thêm giá trị cho cổ đông.
Trung bình có trọng số xác suất của các kết cục; chỉ đáng tin khi xác suất có cơ sở.
Mức độ dữ liệu quan sát "lạ" so với điều mô hình thống kê (gồm H0) dự đoán; không phải xác suất H0 đúng.
Một giá trị là phổ quát vì ở đâu cũng có người có lý do để coi trọng nó, không vì mọi người đã đồng ý.
Một đồng nhận hôm nay đáng giá hơn một đồng nhận sau này vì đồng tiền hôm nay có thể sinh lời.
Phần giá trị tăng thêm mà tên thương hiệu mang lại, thể hiện ở cách khách hàng phản ứng khác đi khi biết hoặc không biết thương hiệu.
Tổng lợi nhuận kỳ vọng mà một khách mang lại trong toàn bộ thời gian gắn bó, có chiết khấu về hiện tại.
Sự chấp thuận ngầm của nhà nước, cộng đồng và xã hội cho phép doanh nghiệp hoạt động ổn định.
Một vài chục cổ phiếu đã loại phần lớn rủi ro riêng, nhưng không loại được rủi ro thị trường; tương quan còn tăng khi khủng hoảng.
Nguyên tắc dữ liệu cá nhân chỉ được thu thập cho mục đích xác định, rõ ràng và không dùng sang mục đích không tương thích.
Khả năng giữ khách quay lại; tỉ lệ rời bỏ thấp thường là điều kiện để doanh thu định kỳ có ý nghĩa và lợi nhuận bền.
Giữ chân là khách tiếp tục mua hoặc trả phí; churn là khách rời đi. Mô hình thu phí định kỳ sống nhờ giữ chân.
Nhìn vào kết cục của những dự án tương tự thay vì chỉ kế hoạch của mình.
Gộp nhiều dịch vụ vào một gói để tăng giá trị cảm nhận và giảm tỷ lệ khách rời đi.
Hàng đang di chuyển từ nơi này đến nơi khác, thuộc tồn kho dù chưa nằm trong kho nào.
Hàng hoá loại trừ được nhưng ở mức nào đó không tranh giành giữa các thành viên (ví dụ thẻ thành viên chia sẻ xe).
Chuỗi điểm chạm từ lúc biết thương hiệu đến sau mua, mỗi giai đoạn có tín hiệu dữ liệu và hành động marketing riêng.
Bộ giả định ngầm làm trung tâm của mạng lưới văn hoá; các câu chuyện, biểu tượng, nghi thức, quyền lực, kiểm soát và cấu trúc giữ cho nó đứng yên.
Chọn quy tắc mà nếu mọi người cùng tuân theo thì phúc lợi tổng thể cao nhất, thay vì tính toán từng tình huống riêng lẻ.
Độ nhạy của lợi suất một tài sản với lợi suất thị trường; beta lớn hơn 1 nghĩa là biến động mạnh hơn thị trường.
Tỉ số giữa độ lớn hiệu ứng thể hiện trên hình và độ lớn hiệu ứng trong dữ liệu; gần 1 là trung thực.
Tài sản ngắn hạn (có hoặc không trừ tồn kho) chia cho nợ ngắn hạn, đo khả năng trả nợ đến hạn.
Tỷ lệ biến thiên của kết quả mà mô hình giải thích được; cao chưa chắc mô hình đúng hay có nhân quả.
Tên chung cho cả workflow định sẵn lẫn agent tự điều hướng có dùng mô hình và công cụ.
Thuật toán gợi ý sản phẩm hoặc nội dung dựa trên hành vi và sở thích của người dùng và của những người tương tự.
Ba tầng văn hoá theo Schein: cái thấy được, cái tổ chức tuyên bố, và cái được mặc nhiên coi là đúng. Càng sâu càng khó thấy và khó đổi.
Giá trị tổ hợp lớn hơn tổng giá trị riêng lẻ, thường được dùng để biện minh cho mua lại. Ansoff nhấn mạnh hiệp lực phải xác định cụ thể nguồn gốc; tuyên bố chung chung dễ bị phóng đại.
Trạng thái không thể làm ai khá hơn mà không làm người khác tệ đi. Một cải thiện Pareto làm ít nhất một người khá hơn và không ai tệ hơn.
Cùng một vấn đề, cách đặt câu hỏi khác nhau dẫn tới lựa chọn khác nhau.
Gián đoạn ở một mắt xích lan ngược và xuôi qua mạng lưới cung ứng, gây thiệt hại vượt xa điểm bị đánh trúng.
Giá trị của nền tảng tăng khi có thêm người dùng.
Ước lượng bị kéo về con số đầu tiên nghe thấy, kể cả khi con số đó tuỳ tiện.
Nhà đầu tư thuế cao thích cổ phiếu ít cổ tức, nhà đầu tư thuế thấp thích cổ tức; mỗi công ty hút đúng nhóm của mình.
Biến động của đơn hàng khuếch đại dần khi đi ngược lên chuỗi, dù nhu cầu cuối cùng gần như ổn định.
Quy lịch thành phẩm thành nhu cầu linh kiện và nguyên liệu, lùi theo lead time và tồn kho.
Doanh nghiệp tích luỹ năng lực nhờ tiếp xúc khách hàng khó tính và công nghệ ở thị trường nước ngoài.
Năng lực của tổ chức rút kinh nghiệm và thích ứng; Burnes xếp nó cùng cấu trúc, văn hoá, hành vi quản lý, quyền lực là năm yếu tố quyết định thay đổi.
Hồ sơ số của sản phẩm, đọc qua mã QR hoặc thẻ dữ liệu, chứa thông tin về nguồn gốc, thành phần, sửa chữa; EU đang triển khai theo nhóm hàng.
Dùng một biến dự đoán biến kết quả bằng đường thẳng; hệ số góc là mức đổi của kết quả khi biến dự đoán tăng một đơn vị.
Bộ đòn bẩy marketing: sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến; với dịch vụ thêm con người, quy trình, bằng chứng hữu hình.
Hợp đồng không bảo đảm số giờ làm tối thiểu; người làm thường thiếu nhiều quyền bảo vệ như sa thải bất công hay nghỉ thai sản.
Những kỳ vọng ngầm hai chiều giữa nhân viên và tổ chức về công sức, an toàn việc làm, đối xử công bằng. Khi một bên cảm thấy bị vi phạm, kháng cự xuất hiện.
Nền tảng do người lao động hoặc người dùng sở hữu và quản trị chung, như lựa chọn thay thế cho nền tảng do vốn mạo hiểm chi phối.
Gọi nhiều người góp những khoản nhỏ; có bốn dạng: cổ phần, phần thưởng, quyên góp, cho vay.
Máy dừng ngay khi có sự cố để không tạo thêm sản phẩm lỗi.
Đường báo cáo an toàn để nhân viên báo hành vi sai trái hoặc vi phạm kiểm soát.
Lấy trung bình nhiều mô hình thường chính xác và ổn định hơn một mô hình đơn lẻ.
Ghi nhận doanh thu khi kiếm được và chi phí khi phát sinh, bất kể lúc tiền di chuyển; vì thế lợi nhuận khác dòng tiền.
Một số thước đo công bằng toán học không thể thoả mãn cùng lúc ngoài các trường hợp tầm thường, nên chọn thước đo là quyết định giá trị.
Mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo và sự gắn kết của nhân viên không giống nhau ở mọi quốc gia. Li và cộng sự tổng hợp bằng meta-analysis theo từng nước, nên không nên giả định một phong cách có tác động giống nhau toàn cầu.
Quan điểm cho rằng kháng cự không xuất phát chỉ từ nhân viên mà từ các mục tiêu mâu thuẫn trong hệ thống tổ chức; gần với ý gốc của Lewin hơn cách hiểu cá nhân hoá phổ biến.
Một bộ phận người đọc khó phân biệt một số màu, nên đừng chỉ dùng màu để phân biệt dữ liệu.
Là độ lệch giữa điều tổ chức tuyên bố và điều ngân sách, quyết định và hành vi thực tế cho thấy. Khoảng cách lớn làm sứ mệnh mất uy tín và là dấu hiệu rằng các cơ chế kiểm soát chưa phục vụ hướng đi đã nêu.
Mức độ một xã hội chấp nhận và coi là bình thường việc quyền lực phân bổ không đều; ảnh hưởng đến việc nhân viên chờ chỉ đạo hay tự chủ.
Mức khác biệt về văn hoá, ngôn ngữ, thể chế giữa thị trường nhà và thị trường đích; thường vào nước gần trước.
Thay đổi ý định chỉ kéo theo thay đổi hành vi ở mức vừa phải, nên "ưu tiên cao" tự khai chưa chứng minh được hành động.
Khoảng giá trị mà dữ liệu và mô hình cho là hợp lý cho tham số thật; khoảng rộng nghĩa là kết luận kém chắc.
Nhiều tổ chức dùng AI nhưng chưa chứng minh được lợi ích bằng chỉ số có đường cơ sở.
Nhận ra, nắm bắt và khai thác cơ hội mà thay đổi tạo ra, bằng những cách làm mới.
Hành vi khởi nghiệp bên trong một tổ chức có sẵn: tạo mảng kinh doanh mới hoặc làm mới chiến lược.
Khám phá, hiện thực hoá, đánh giá và khai thác cơ hội vượt biên giới để tạo hàng hoá, dịch vụ tương lai.
Khởi nghiệp thành công trên thị trường nhờ đổi mới môi trường, dựa vào sáng kiến cá nhân hơn là hệ thống quản lý.
Lập doanh nghiệp mới hoặc chuyển đổi doanh nghiệp sẵn có bằng công nghệ số hoặc cách dùng mới của công nghệ.
Khởi nghiệp lấy sứ mệnh xã hội làm trung tâm; lợi nhuận là phương tiện chứ không phải mục đích.
Thiên hướng tính cách làm một người dễ hoặc khó chấp nhận thay đổi, đo bằng thang RTC của Oreg: ưa thói quen, phản ứng cảm xúc, cứng nhắc nhận thức, nhìn ngắn hạn. Không quyết định hành vi ở từng sáng kiến cụ thể.
Một hành động của khách, như bỏ giỏ hàng, tự động kích hoạt một thông điệp cá nhân hoá đúng lúc.
Hệ thống tự động phân loại nội dung người dùng (so khớp hoặc dự đoán) rồi quyết định gỡ, gắn cờ hay chặn; nảy sinh vấn đề minh bạch, công bằng và phi chính trị hoá.
Tập chính sách và quy trình bảo đảm báo cáo đáng tin, tài sản được bảo vệ, hoạt động hiệu quả và tuân thủ pháp luật.
Thử nhiều phiên bản quảng cáo, email hoặc trang để xem phiên bản nào hiệu quả hơn, dùng nhóm đối chứng để tách tác động thật.
Bắt đầu từ nguồn lực đang có rồi chọn kết quả khả thi, thay vì chọn mục tiêu trước.
Kiến trúc mạng nơ-ron dùng cơ chế chú ý để mỗi từ cân nhắc mọi từ khác trong ngữ cảnh; nền của các mô hình ngôn ngữ lớn.
Mô hình giữ vật liệu trong vòng sử dụng thay vì thải bỏ.
Thiết kế môi trường quanh agent (công cụ, ràng buộc, tài liệu, vòng phản hồi) để agent làm việc đáng tin trong giới hạn.
Chọn và duy trì tập thông tin tốt nhất mà mô hình nhìn thấy khi suy luận: chỉ dẫn hệ thống, công cụ, dữ liệu ngoài, lịch sử hội thoại.
Cách viết và tổ chức chỉ dẫn gửi mô hình để kết quả chính xác, dùng được ngay; thường phải lặp nhiều vòng.
Lãi vay được trừ khỏi thu nhập chịu thuế nên nợ làm giảm thuế phải nộp; lợi ích này bị cân bằng bởi chi phí kiệt quệ tài chính.
Các năng lực lãnh đạo cần cho tổ chức đang số hoá. Cortellazzo và cộng sự rà soát vai trò của lãnh đạo trong thế giới số; Müller và cộng sự đề xuất cách tiếp cận theo hoàn cảnh cho năng lực lãnh đạo chuyển đổi số.
Lãnh đạo chuyển đổi truyền cảm hứng để tạo thay đổi tích cực; lãnh đạo giao dịch dùng thưởng và phạt để đạt hiệu suất. Thay đổi văn hoá toàn tổ chức cần kiểu thứ nhất, thay đổi nhiệm vụ nhỏ có thể dùng kiểu thứ hai.
Bằng chứng tổng hợp cho thấy lôi kéo nhân viên cùng lãnh đạo có tham gia giúp thay đổi thành công hơn, nhưng cần điều chỉnh theo loại thay đổi và hoàn cảnh.
Lãnh đạo diễn ra qua công nghệ thông tin, nơi công nghệ ảnh hưởng đến cách người lãnh đạo tác động và cách người khác nhận thông điệp. Avolio và cộng sự đề xuất khái niệm năm 2000 và cập nhật năm 2014.
Lãnh đạo dựa trên trao đổi: thưởng khi đạt chuẩn đã thoả thuận và can thiệp khi có sai lệch. Phù hợp khi hướng đi đã rõ và cần thực thi nhất quán; rủi ro là cứng nhắc.
Chỉ đạo là người lãnh đạo tự quyết và giao việc rõ ràng; tham gia là người lãnh đạo mời đội cùng bàn. Post và cộng sự thử nghiệm với các đội khủng hoảng mô phỏng: chỉ đạo nhanh và chính xác hơn ở nhiệm vụ quen, tham gia chính xác hơn ở nhiệm vụ lạ.
Quản lý xử lý sự phức tạp để có trật tự và nhất quán; lãnh đạo xử lý thay đổi bằng tầm nhìn và sự ủng hộ. Một người thường cần cả hai vai.
Cách lãnh đạo gắn quyết định của tổ chức với tác động môi trường và xã hội dài hạn. Sajjad, Eweje và Raziq tổng hợp văn liệu và đề xuất khung tích hợp cho khái niệm này.
Tổ chức khu vực học hỏi, mô phỏng thể chế nơi khác. ASEAN lấy một số thể chế kiểu EU nhưng chọn lọc theo quan niệm chủ quyền.
Theo dõi bình luận và đánh giá trên mạng để nắm cảm nhận về thương hiệu.
Quy trình phân tích các dự án dài hạn (nhà máy, máy móc, thị trường mới) và chọn dự án đưa vào kế hoạch vốn.
Mô hình không biết điều xảy ra sau mốc dữ liệu huấn luyện nên trả lời lỗi thời hoặc bịa.
Lịch chi tiết số lượng và thời điểm từng thành phẩm trong vài tuần đến vài tháng tới.
Hai bên lập một tổ chức mới chung để chia sẻ chi phí, rủi ro và chuyên môn.
Quan hệ dài hạn chia sẻ rủi ro, lợi ích và nguồn lực giữa người mua và nhà cung cấp.
Nhóm người đủ quyền lực, chuyên môn, uy tín và quan hệ để dẫn dắt thay đổi; một người đơn lẻ không đủ. Ở tổ chức rất nhỏ, quy mô nhóm này có thể thu lại còn vài người.
Mô hình ngôn ngữ cộng thêm truy xuất, công cụ và bộ nhớ; viên gạch cơ bản của hệ thống agentic.
Công ty ngoài đảm nhận vận chuyển, kho hoặc quản lý dòng vật tư vào ra thay cho bạn.
Thu hồi sản phẩm hoặc bao bì sau dùng để tái sử dụng, tái chế hoặc lấy lại vật liệu.
Ba bẫy: tự động hoá việc còn cần phán đoán, chuỗi nhiều bước không ai kiểm, vòng lặp agent chạy mãi đốt ngân sách.
Một yêu cầu rõ ràng, như “Mua ngay”, cho người đọc biết bước tiếp theo cần làm và lý do làm ngay.
Là việc thực hiện một chiến lược tạo giá trị mà đối thủ hiện tại và tiềm năng không thể sao chép, và lợi thế còn kéo dài sau khi họ cố bắt chước. Bền vững không nhằm nói về thời gian trên lịch mà về việc không bị sao chép.
Lợi ích của việc vào thị trường trước đối thủ, nhưng thường chỉ tạm thời nếu đối thủ bắt kịp.
Khi một bên biết nhiều hơn (người bán hay người vay), bên kia khó phân biệt chất lượng nên thị trường bị méo.
Quyết định vào thị trường nước ngoài qua xuất khẩu, cấp phép, nhượng quyền, liên doanh hay công ty con sở hữu toàn bộ. Cân bằng giữa mức kiểm soát, vốn cam kết, tốc độ và rủi ro.
Lượng mỗi lần đặt làm tổng chi phí đặt và giữ nhỏ nhất, trong điều kiện nhu cầu ổn định.
Nhà quản lý có thể được thúc đẩy nội tại để chăm lo cho tổ chức, nên giám sát chặt chưa chắc cần thiết.
Ba thước đo sai số dự báo: sai số tuyệt đối trung bình, căn sai số bình phương trung bình, phần trăm sai số tuyệt đối trung bình; MAPE hỏng khi giá trị thực gần 0.
Công cụ tư duy: chọn nguyên tắc công bằng khi chưa biết xuất thân, của cải, giới tính, tài năng của mình, để buộc phải suy nghĩ vô tư.
Mạng toàn cầu bị phân đoạn về kỹ thuật, chính sách hoặc thương mại, thường theo ranh giới quốc gia hoặc khối.
Tập hợp quan hệ dọc và ngang của doanh nghiệp với tổ chức khác, kênh tiếp cận thông tin và nguồn lực.
Dùng dữ liệu hành vi, sở thích, nhân khẩu học để ra quyết định và tối ưu marketing, nhằm tăng độ chính xác, tương tác và lợi tức.
Cách làm marketing chủ động, đổi mới, ít nguồn lực, dựa vào quan hệ và truyền miệng.
Xây dựng sự hiện diện và cộng đồng trên nền tảng xã hội bằng nội dung hấp dẫn, quảng cáo trả tiền và tương tác hai chiều.
Hợp tác với người có lượng theo dõi và uy tín để mượn niềm tin của họ khi giới thiệu thương hiệu; hiệu quả phụ thuộc vào độ tin cậy của nội dung.
Tạo nội dung hữu ích, phù hợp với vấn đề của khách để thu hút đúng người và định vị thương hiệu là nguồn đáng tin.
Gửi thư có mục tiêu để nuôi dưỡng khách tiềm năng, giữ chân khách cũ và giới thiệu ưu đãi, có cá nhân hoá, phân nhóm và đo lường.
Dùng công nghệ mới, dữ liệu và kênh số để quảng bá thương hiệu và tương tác với khách hàng, ngày càng dựa vào tự động hoá và AI.
Áp dụng khoa học thần kinh và tâm lý để xem não phản ứng thế nào với quảng cáo, bao bì và thông điệp; bằng chứng còn nhiều tranh luận.
Nguyên tắc chia nhóm sao cho các nhóm không chồng lấn và gộp lại thì đủ toàn bộ vấn đề.
Họ mô hình dự báo dùng giá trị quá khứ và sai số quá khứ của chính chuỗi; cần chuỗi đủ ổn định.
Khách trả phí định kỳ để được dùng một sản phẩm, thường là phần mềm, trong một khoảng thời gian xác định.
Tính năng cơ bản miễn phí để thu hút đông người dùng, rồi chuyển một phần nhỏ sang gói trả phí có tính năng cao cấp.
Quy tắc phân bổ công cho các điểm chạm dẫn tới một lượt mua; “last-click” chỉ ghi nhận điểm chạm cuối nên chỉ cho thấy tương quan.
Phí định kỳ đổi lấy quyền lợi riêng, thường gắn với cộng đồng, nhằm tạo lòng trung thành bằng đặc quyền.
Doanh nghiệp kết nối hai nhóm người dùng, như khách và tài xế; khác mô hình tự vận hành tài sản và nhân sự.
Mô hình học trên khối văn bản rất lớn để đoán phần tiếp theo của câu; là lõi của các chatbot hiện nay.
Mô hình gọn, chuyên một lĩnh vực, chạy rẻ hơn mô hình lớn.
Khách trả khoản cố định định kỳ để có quyền tiếp cận dịch vụ chuyên môn liên tục, thường thấy ở luật, tư vấn, marketing.
Mô hình được thiết kế để suy luận nhiều bước nội bộ trước khi trả lời, đổi tốc độ lấy độ chính xác.
Khách trả phí định kỳ để được dùng liên tục một sản phẩm hoặc dịch vụ, giúp doanh thu dễ dự báo và quan hệ dài hạn.
Mua nguyên liệu, linh kiện qua nền tảng trực tuyến: giảm chi phí giao dịch nhưng dễ thiên về giá, thiếu quan hệ.
Đưa yêu cầu môi trường vào đặc tả mua và đánh giá nhà cung cấp, kể cả cấp 2.
Công ty dùng tiền mua cổ phiếu của chính mình; linh hoạt hơn cổ tức vì không tạo cam kết lặp lại.
Chọn đúng một nhà cung cấp cho một hạng mục: quan hệ sâu, giá tốt nhưng rủi ro phụ thuộc.
Hai hoạt động được coi là liên quan nếu cùng nét về công nghệ, sản xuất hoặc kênh phân phối; liên quan cao thì dễ chia sẻ nguồn lực.
Mức độ công việc chiếm chỗ trung tâm trong cuộc sống, khác nhau theo quốc gia, ảnh hưởng đến cách thiết kế động lực và nhân sự.
Sự kết hợp giữa khả năng và sự sẵn lòng của người đi theo trong việc tự nhận trách nhiệm cho công việc; cơ sở để chọn phong cách lãnh đạo trong mô hình tình huống.
Mức độ cá nhân và tổ chức hiểu nhu cầu thay đổi và đủ năng lực thực hiện; thường bị bỏ qua khi lao ngay vào triển khai.
Ngưỡng đặt trước (thường 5%) để quyết định bác bỏ H0; chọn chặt hơn khi hậu quả sai lầm lớn.
Khả năng tích hợp, xây dựng và tái cấu hình năng lực trong và ngoài tổ chức để đáp ứng môi trường thay đổi nhanh.
Khả năng của doanh nghiệp trong việc tích hợp, xây dựng lại và định hình lại năng lực bên trong và bên ngoài để thích ứng với môi trường thay đổi nhanh. Chúng bàn về cách năng lực được làm mới, không phải bản thân năng lực hiện có.
Khả năng của nước, ngành, vùng hay doanh nghiệp tiếp nhận tri thức và công nghệ lan toả từ MNE; điều kiện để FDI tạo lan toả.
Điểm nghẽn ở bước thăng chức đầu tiên lên quản lý: tỷ lệ phụ nữ được thăng thấp hơn nam, làm số phụ nữ ở cấp cao thiếu từ gốc.
Mức độ xã hội dựa vào quy tắc, nghi thức và thủ tục để giảm tính khó đoán; liên quan đến cách nhận thức rủi ro khi thay đổi.
Công cụ dựng ứng dụng hoặc quy trình bằng kéo thả, không viết mã.
Phiên bản nền tảng nhỏ nhất đủ để kiểm chứng mô hình với cả hai phía thị trường.
Tình huống một nguồn lực có giá trị nhưng nhiều đối thủ cũng có, nên nó giúp doanh nghiệp tồn tại chứ không giúp vượt lên. Đây là kết quả bình thường của phân tích VRIO, không phải thất bại.
Các tổ chức làm chức năng giống ngân hàng, chủ yếu huy động vốn ngắn hạn, nhưng nằm ngoài khung điều tiết ngân hàng truyền thống.
Ngân sách điều chỉnh theo mức hoạt động thực tế để so sánh chênh lệch công bằng.
Nghĩa vụ giúp người khác bảo vệ quyền của họ khi mình làm được với chi phí hợp lý. Nghĩa vụ này bị giới hạn, không buộc ai hy sinh quyền của chính mình.
Nghĩa vụ pháp lý và đạo đức của người đại diện (nhà quản lý) hành động vì lợi ích của bên uỷ quyền (chủ sở hữu).
Yêu cầu nhà quản lý cùng lúc có nghĩa vụ với nhiều nhóm. Heath cảnh báo nó dễ biến thành lý do để tránh trách nhiệm giải trình.
Quan hệ giữa hai biến xuất hiện, biến mất hoặc đảo chiều khi tách theo nhóm con.
Doanh thu và điểm số có thể tăng mạnh trong khi lợi nhuận giảm vì chi phí mở rộng cùng dồn lên một lúc.
Chế độ agent tự tra nhiều nguồn web và tổng hợp thành báo cáo; vẫn phải kiểm nguồn.
Hành vi của tổ chức nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh qua quan hệ với chính phủ, doanh nghiệp khác và tổ chức phi lợi nhuận; còn là khả năng thu phục các bên liên quan bên ngoài.
Chi phí hoặc lợi ích rơi vào bên thứ ba không tham gia giao dịch (ví dụ ô nhiễm), nên giá không phản ánh chi phí xã hội.
Chi phí do hoạt động của một bên gây ra nhưng người thứ ba gánh, như ô nhiễm hay rủi ro lan sang cả hệ thống tài chính.
Xu hướng đánh giá thấp thời gian và chi phí của chính mình dù đã biết các dự án tương tự thường trễ.
Dữ liệu CRM, lịch sử mua, hành vi trên web và ứng dụng, mạng xã hội, cảm biến và cuộc trò chuyện với khách hàng.
Nguồn lực là thứ doanh nghiệp sở hữu hoặc kiểm soát, như nhà máy, thương hiệu, bằng sáng chế. Năng lực là khả năng phối hợp các nguồn lực đó để làm việc hiệu quả. Lợi thế thường đến từ năng lực khó thấy hơn là từ tài sản dễ mua.
Bất bình đẳng kinh tế chỉ chấp nhận khi nó làm nhóm yếu thế nhất khá hơn so với mọi cách sắp xếp khả thi khác. Không phải mức tối thiểu, không phải tổng lợi ích.
Nguyên tắc kinh doanh phức tạp hơn tối đa hoá lợi nhuận, tình cảm đạo đức ảnh hưởng rộng đến kinh tế; tác giả cảnh báo khái quát hoá kiểu "giá trị châu Á hơn đạo đức phương Tây".
Nhân vật do máy tính tạo ra, chỉ tồn tại trực tuyến nhưng có người theo dõi và hợp đồng quảng cáo như người thật.
Người hoặc nhóm chịu trách nhiệm đánh giá mức sẵn sàng, chọn phương án và điều phối quá trình thay đổi; loại tác nhân cần phù hợp với từng hoàn cảnh chứ không có một mẫu chung.
Người chịu tác động của thay đổi và phải chấp nhận cũng như thích nghi; khác với người triển khai, người lo công việc hằng ngày của chương trình.
Một công ty điều phối từ thiết kế, sản xuất thuê, phân phối đến bán lẻ để nối thẳng phản hồi khách với sản xuất.
Cá nhân giàu có đầu tư vào doanh nghiệp non trẻ để đổi lấy cổ phần hoặc nợ chuyển đổi, thường kèm kết nối.
Dấu hiệu giúp phân biệt hàng hoá, dịch vụ của một doanh nghiệp; ở Anh phải đăng ký để được bảo hộ.
Khả năng học nhanh từ trải nghiệm và áp dụng bài học vào tình huống mới, kể cả khi chưa có công thức. Bouland-van Dam và cộng sự xây dựng và kiểm định một thang đo cho khái niệm này.
Trong sự cố mạng, nhóm tổ chức công bố sớm, nói rõ điều đã biết và chưa biết, và cập nhật liên tục, thường bảo vệ niềm tin tốt hơn. Aoyama và cộng sự nghiên cứu vai trò của nhanh nhạy, minh bạch và củng cố tích cực.
Thuyết nhà nước mạnh cho rằng phát triển cần bộ máy cách ly khỏi nhóm lợi ích và thống nhất. Bài nghiên cứu về công nghiệp ô tô Đông Nam Á và Đông Á đề xuất cách tiếp cận thể chế rộng hơn.
Tiếp cận lại người dùng dựa trên hành vi trước đó như xem sản phẩm hoặc bỏ giỏ hàng.
Các yếu tố nhìn và nói tạo nên hình ảnh thương hiệu (logo, màu, kiểu chữ, giọng điệu) và phải nhất quán với định vị và khách mục tiêu.
Bắt đầu từ mục tiêu đã định rồi chọn phương tiện tốt nhất để đạt.
Thay vì “làm tốt dẫn tới lãi”, có thể công ty đã có lãi nên mới đủ khả năng chi cho hoạt động tốt. Nghiên cứu tương quan thường không loại trừ được điều này.
Chiều tác động có thể ngược giả định: công ty sinh lời hơn có điều kiện đầu tư đa dạng, chưa chắc đa dạng làm giàu.
Trang ghi mỗi lần AI sai: hỏi gì, trả lời gì, vì sao sai, phát hiện bằng cách nào, thiệt hại nếu không phát hiện.
Dãy biểu đồ nhỏ giống hệt cấu trúc, đặt cạnh nhau để so sánh nhóm hoặc thời kỳ mà không rối.
Cho bên độc lập dùng thương hiệu, mô hình và hệ thống vận hành để lấy phí hoặc tiền bản quyền.
Ảnh, video, bài đánh giá do chính khách hàng tạo và chia sẻ, thường được thương hiệu khuyến khích và đăng lại.
Nổi lên là được nhóm xem là lãnh đạo; hiệu quả là dẫn dắt nhóm đạt mục tiêu; hai điều này có thể không trùng nhau.
Quá trình cải tổ nền kinh tế từ bên trong: cái mới liên tục thay thế cái cũ do các nhà đổi mới thúc đẩy.
Mô hình lấy nhu cầu khách làm gốc, dùng dữ liệu bán hàng để giảm tồn kho và rủi ro dự báo.
Khi một hãng lớn đầu tư ra nước ngoài, đối thủ có thêm lý do đầu tư theo vào cùng nước.
Lần đầu công ty bán cổ phiếu ra công chúng và niêm yết trên sàn.
Phát minh là ý tưởng hay công nghệ mới; đổi mới chỉ xảy ra khi ý tưởng đó được ứng dụng và tạo ra kết quả thương mại.
Đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm giảm khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ sau.
Thâm nhập là bán thêm sản phẩm hiện có ở thị trường hiện có; phát triển thị trường là đem sản phẩm hiện có đến khách hàng hoặc khu vực mới. Hai hướng này rủi ro thấp hơn đa dạng hoá vì doanh nghiệp đã biết sản phẩm hoặc khách hàng.
Quy tắc hay cơ chế xã hội trung tính về hình thức nhưng tái tạo bất bình đẳng giữa các nhóm mà không cần ai có ý định phân biệt.
Chia danh mục giữa cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản, tiền mặt theo mục tiêu và khẩu vị rủi ro; thường quyết định phần lớn biến thiên theo thời gian.
Lợi suất bổ sung mà nhà đầu tư đòi hỏi khi nắm cổ phiếu thay vì tài sản phi rủi ro; khó ước lượng và hay bị tranh cãi.
Thị trường tạo hiệu quả (làm to chiếc bánh), nhà nước lo phân phối lại; nhà quản lý chịu trách nhiệm về hiệu quả, không về tái phân phối.
Chênh lệch giữa giá trị thực và giá trị mô hình dự đoán; đồ thị phần dư lộ quan hệ phi tuyến hoặc phương sai đổi.
Phân nhóm khách bằng học máy, trong đó các nhóm thay đổi theo thời gian thực thay vì cố định.
Chia một thị trường rộng thành các nhóm khách hàng có đặc điểm chung và có khả năng phản ứng giống nhau với một chương trình marketing.
Xếp mặt hàng theo giá trị: nhóm A ít mặt hàng nhưng chiếm phần lớn giá trị nên kiểm soát chặt, nhóm C nhiều mặt hàng giá trị thấp nên kiểm soát gọn.
Phần mềm chạy trên đám mây, truy cập qua internet và trả phí thuê bao, không cần cài đặt hay quản lý máy chủ.
Tách chuỗi thành xu hướng, chu kỳ, mùa vụ và phần ngẫu nhiên để thấy cái gì lặp lại.
Chia các bước nhạy cảm (ghi nhận, phê duyệt, đối chiếu) cho những người khác nhau để không ai nắm toàn bộ một quy trình.
Dùng ngôn ngữ máy tính để phân loại giọng điệu tích cực, tiêu cực hay trung tính của bình luận và đánh giá.
Ước lượng giá trị nội tại từ báo cáo tài chính, kinh tế vĩ mô và ngành, với niềm tin giá thị trường sẽ hội tụ về giá trị đó.
Thay đổi từng giả định, hoặc áp một cú sốc nặng nhưng có thể xảy ra, để xem kết quả tài chính biến động ra sao.
Đọc biến động giá và khối lượng để tìm mẫu hình lặp lại; giả định thông tin đã nằm trong giá.
Giả sử dự án đã thất bại trong tương lai rồi giải thích nguyên nhân, để lộ rủi ro mà dự báo thông thường bỏ sót.
Phép thử năm 1950: nếu người hỏi không phân biệt được máy với người qua hội thoại thì máy được coi là biết suy nghĩ theo nghĩa hành vi.
Ý tưởng cố định trạng thái mới bị nghi ngờ khi môi trường thay đổi liên tục, và vì chính mô hình ba bước có thể không phải do Lewin nêu ra.
Nước đang phát triển mất việc làm sản xuất ở mức thu nhập thấp hơn nhiều so với nước giàu trước đây, làm hẹp con đường công nghiệp hoá.
Giai đoạn kết nối kinh tế toàn cầu chững lại hoặc giảm. Một bài nghiên cứu cho rằng chưa đủ dữ liệu để khẳng định, dù có điểm giống các làn sóng trước.
Dùng hợp đồng tài chính để bù trừ biến động tỷ giá, lãi suất hay giá hàng hoá.
Kế hoạch dự phòng khi mất đăng nhập, hết hạn mức, đổi vùng hoặc đổi giao diện.
Hội đồng chuyên gia trả lời nhiều vòng ẩn danh, mỗi vòng thấy kết quả tổng hợp vòng trước.
Bắt đầu từ lợi nhuận ròng, cộng khấu hao và điều chỉnh thay đổi vốn lưu động để ra dòng tiền hoạt động.
Đưa vài cặp ví dụ vào–ra mẫu trong prompt để mô hình bắt chước kiểu mong muốn.
Tinh chỉnh kết quả qua nhiều lượt hội thoại thay vì cố đạt hoàn hảo ngay lượt đầu.
Giao việc chỉ bằng chỉ dẫn, không kèm ví dụ nào.
Kỳ vọng nhà nước sẽ cứu tổ chức tài chính quá lớn hoặc quá liên kết, tạo bảo lãnh ngầm làm lệch động cơ chấp nhận rủi ro.
Theo Heath, quảng cáo trung thực giảm bất cân xứng thông tin là chấp nhận được; quảng cáo chỉ nhằm giành thị phần mà không thêm thông tin bị coi là cạnh tranh không sinh lợi.
Mua quảng cáo trên công cụ tìm kiếm hoặc mạng xã hội theo từ khoá và nhóm khách; nhà quảng cáo chỉ trả khi có người nhấp.
Điều phối dòng hàng, thông tin và tiền giữa nhà cung cấp, nhà sản xuất, phân phối và bán lẻ để giảm chi phí mà vẫn đạt mức dịch vụ khách cần.
Quản trị chuỗi sao cho cân bằng khía cạnh kinh tế, môi trường và xã hội, không chỉ chi phí.
Đưa mục tiêu môi trường vào thiết kế, mua, sản xuất, phân phối, sử dụng và thu hồi.
Cách tiêu chuẩn và chứng nhận của người mua lớn định hình quyền lực và phối hợp giữa người sản xuất, trung gian và nhà chế biến.
Chiến lược và hệ thống gom dữ liệu khách hàng để cá nhân hoá giao tiếp, theo dõi lịch sử mua và giữ quan hệ lâu dài.
Cách tổ chức có kế hoạch để chuyển từ trạng thái hiện tại sang trạng thái mong muốn, trong đó phần khó nhất thường là phần con người: họ hiểu, chấp nhận và thay đổi hành vi hay không.
Quy tắc bắt buộc tuân thủ luật cụ thể; nguyên tắc yêu cầu công bố mức tuân thủ và giải thích khi lệch chuẩn.
Khung thể chế, quy tắc, chuẩn mực giúp nhà nước và chủ thể quốc tế hành động tập thể; không phải chính phủ thế giới.
Khoảng dự báo quá hẹp so với độ chính xác thực của người dự báo.
Thay đổi diễn ra trong mạng lưới liên minh và lợi ích; chiến lược cũng là kết quả của tranh luận và lựa chọn của nhà quản lý chứ không chỉ phân tích hợp lý.
Càng thu nhiều dữ liệu cá nhân, doanh nghiệp càng có nghĩa vụ pháp lý và đạo đức; GDPR là quy định bảo vệ dữ liệu của EU/Anh.
Quyền riêng tư của mỗi người phụ thuộc vào hành vi của người khác; vì thế đồng ý cá nhân không đủ và cần phối hợp nhóm.
Quyền tài sản trên thứ vô hình như ý tưởng, sáng chế, dấu hiệu và thông tin; có tính lãnh thổ.
Con số hay được trích rằng lời nói chỉ chiếm 7% thông điệp. Mehrabian nghiên cứu cảm xúc khi lời nói và nét mặt hay giọng điệu mâu thuẫn nhau, không phải mọi thuyết trình; vì vậy áp dụng con số này cho mọi tình huống là sai.
Mô hình truy xuất đoạn tài liệu liên quan rồi mới sinh câu trả lời dựa trên đó.
Một lựa chọn không được tối ưu hoá như chi phí thông thường vì vượt qua nó làm mất uy tín của toàn bộ chiến lược.
AI làm tốt một số việc và kém bất ngờ ở việc khác trông tương tự; người dùng phải biết việc nào ở bên nào.
Giới hạn kỹ thuật hoặc quy trình giữ AI trong phạm vi cho phép, ví dụ một lớp kiểm tra riêng cho yêu cầu đầu vào.
Các vùng thời gian từ đóng băng đến mở, quy định mức độ được đổi kế hoạch.
Chọn hành động dựa trên bằng chứng đã thu thập và phân tích, theo vòng đặt câu hỏi, phân tích, truyền đạt, điều chỉnh.
Cuộc thảo luận có cấu trúc ngay sau một sự kiện nhằm hỏi điều gì đã xảy ra, vì sao và nên làm gì khác. Keiser và Arthur tổng hợp cho thấy nó có hiệu quả, và hiệu quả thay đổi theo cách tổ chức buổi rà soát.
Khi đã được bảo hiểm hoặc bảo lãnh trước tổn thất, chủ thể chấp nhận rủi ro nhiều hơn vì không gánh hết hậu quả, ví dụ kỳ vọng được cứu trợ.
Nguy cơ một cú sốc chung hoặc sự đổ vỡ của một tổ chức lan ra toàn hệ thống; quy định chỉ nhìn từng ngân hàng riêng lẻ có thể bỏ sót.
Rủi ro đến từ toàn thị trường như lãi suất hay suy thoái; không loại bỏ được bằng đa dạng hoá. Đo bằng beta.
Rủi ro riêng của một doanh nghiệp (thu hồi sản phẩm, quản lý yếu) có thể giảm bằng cách nắm nhiều tài sản.
"Gấp 2,7 lần" là tương đối; cần đi kèm mức tuyệt đối để biết chênh lệch thật.
Rút khỏi thị trường không thể gánh chi phí cố định là quyết định phân bổ nguồn lực, không nhất thiết là lùi bước chiến lược.
Trung bình sai lệch tuyệt đối giữa dự báo và thực tế tính theo phần trăm; dễ đọc nhưng méo khi giá trị thực gần bằng không.
Dự báo bằng trung bình có trọng số giảm dần theo thời gian; Holt–Winters thêm xu hướng và mùa vụ.
Độc quyền có thời hạn cho một sáng chế, cho phép ngăn người khác làm, dùng, bán khi chưa được phép.
Trong 7-S, chiến lược, cấu trúc, hệ thống dễ xác định và dễ chỉnh; kỹ năng, nhân sự, phong cách, giá trị chung khó quan sát hơn và khó đổi hơn.
Cá nhân hoá ở mức từng cá nhân, theo thời gian thực, nhờ dữ liệu lớn và AI cho một cái nhìn đầy đủ về khách.
Quy trình chuẩn viết thành chỉ dẫn mà AI tự gọi đúng lúc, giống SOP trong doanh nghiệp.
Chia từng giá trị cho giá trị năm gốc rồi nhân 100 để so các chuỗi khác đơn vị.
Tồn kho bình quân chia cho doanh số mỗi tuần: hàng đủ bán trong bao lâu.
Khi sống trong hoàn cảnh thiếu thốn, con người hạ kỳ vọng xuống mức phù hợp với lựa chọn ít ỏi, nên điều họ “muốn” không phản ánh đúng điều họ cần.
Mức chiết khấu làm NPV bằng không. Dễ hiểu theo phần trăm nhưng có thể cho nhiều nghiệm khi dòng tiền đổi dấu nhiều lần.
Hiệu suất và tinh thần thường giảm trước khi cải thiện; nhà quản lý cần tính cái giá này và chuẩn bị kỳ vọng của các bên.
Năng lực của chuỗi chuẩn bị cho sự cố bất ngờ, ứng phó khi gián đoạn xảy ra và phục hồi để duy trì hoạt động ở mức mong muốn.
Năng lực lâu dài của hệ thống lương thực, ở nhiều cấp, trong việc bảo đảm lương thực đủ, phù hợp và tiếp cận được cho mọi người dù có cú sốc.
Điều kiện khởi động một quy trình, như có form mới, đến giờ hoặc nhận email.
Sứ mệnh nêu lý do tổ chức tồn tại và đang phục vụ ai; tầm nhìn mô tả đích đến mong muốn trong tương lai. Collins và Porras tách tầm nhìn thành giá trị cốt lõi cùng mục tiêu táo bạo; Campbell và Yeung gắn sứ mệnh với hành vi hằng ngày.
Khả năng nhận ra thay đổi sớm, dịch chuyển nguồn lực nhanh và đạt cam kết tập thể ở nhóm lãnh đạo mà không sa vào đấu đá nội bộ. Doz và Kosonen coi ba yếu tố này (nhạy bén, linh hoạt nguồn lực, cam kết tập thể) là cốt lõi.
Cho rằng một người xứng đáng nhận phần thưởng chỉ vì những gì anh ta là hoặc đã làm. Scanlon lập luận sự xứng đáng trước thể chế không có vai trò trong biện minh chênh lệch kinh tế lớn.
Làm yếu sự phụ thuộc lẫn nhau giữa hai quốc gia hoặc khối về thương mại, công nghệ, chuỗi giá trị.
Đưa tỷ trọng về mức mục tiêu theo lịch hoặc khi lệch quá ngưỡng, buộc mua tài sản đã rẻ đi và bán tài sản đã đắt lên.
Cho vay khoản rất nhỏ cho người thu nhập thấp, thường là phụ nữ, thường nhờ bảo lãnh nhóm thay cho tài sản thế chấp.
Công sức tinh thần cần để chọn; cá nhân hoá tốt giảm tải này bằng cách đưa ra ít lựa chọn phù hợp hơn.
Các năng lực và tài sản khác ngoài công nghệ, như sản xuất, phân phối, dịch vụ, thương hiệu, cần có để biến đổi mới thành lợi nhuận. Ai kiểm soát chúng có thể thu giá trị hơn người phát minh ra công nghệ.
Đối chiếu kết quả bằng nhiều nguồn, phương pháp hoặc góc nhìn để quyết định không dựa vào một nguồn có thể sai.
Hình ảnh phần nổi (hiện vật, hành vi, quy trình) và phần chìm lớn hơn (giá trị, giả định nền, hợp đồng tâm lý); phần chìm quyết định mức kháng cự khi đổi văn hoá.
Hai bước đầu của quy trình bán: tìm ra người có thể mua, rồi chủ động xây quan hệ với những người đáng theo đuổi.
Khối thương mại có thể tạo thêm thương mại nội khối nhưng cũng chuyển mua hàng từ nhà xuất khẩu hiệu quả bên ngoài sang bên trong khối kém hiệu quả hơn.
Diễn đạt rủi ro bằng số người trên 100 hoặc 1000, dễ hiểu hơn xác suất có điều kiện.
Chiều của GLOBE đo lòng tự hào, trung thành và gắn kết với tổ chức hoặc gia đình; có thể khiến thay đổi bị xem là đe doạ đồng đội.
Tập trung cho quyết định nhanh và nhất quán; phân quyền cho thích ứng địa phương nhưng dễ lệch chuẩn.
Dùng ngôn ngữ “chia sẻ” để che đậy mô hình kinh doanh vì lợi nhuận thông thường vốn đẩy rủi ro sang người lao động.
Quảng bá doanh nghiệp hoặc quỹ là xanh hay có ESG cao hơn thực tế. Chênh lệch thông tin giữa bên bán và bên mua làm hiện tượng này dễ xảy ra.
Hướng dẫn của CMA (Anh) nêu rằng tuyên bố môi trường phải trung thực, rõ ràng và có căn cứ; tuyên bố mơ hồ hoặc thiếu chứng cứ làm mất lòng tin.
Cách phân loại biến (định danh, thứ bậc, khoảng/tỷ lệ) quyết định phép thống kê nào hợp lệ.
Có hai đường dẫn đến đổi hành vi: nghĩ khác đi nhờ dữ liệu và lập luận, hoặc cảm nhận khác đi nhờ trải nghiệm sống động. Cách thứ hai thường tạo thay đổi mạnh hơn.
Thay đổi có kế hoạch đi theo các bước định trước từ trên xuống; thay đổi nổi lên hình thành dần qua học hỏi, thử nghiệm và điều chỉnh. Thực tế thường là cả hai, nên cần chọn theo tình huống.
Thay đổi trong đó công nghệ, quy trình, vai trò, quyền ra quyết định và văn hoá đổi cùng lúc, nên không thể quản lý như một lần cài phần mềm.
Quá trình tổ chức chuyển từ hiện trạng sang trạng thái tương lai để hoạt động hiệu quả hơn, thường vì phải tồn tại trước đối thủ, công nghệ hoặc thị trường thay đổi.
Ba nhịp thay đổi: nhiều bước nhỏ liên tiếp; thời gian ổn định dài xen những cú nhảy lớn; hoặc biến đổi không ngừng trong công việc hằng ngày. Chúng là mô hình theo tình huống, không phải ba lý thuyết loại trừ nhau.
Cải thiện nhìn thấy được, đạt sớm và gắn với người tạo ra nó; giúp duy trì động lực và chặn nguy cơ nửa chừng quay lại cách cũ.
Thẩm định là kiểm tra kỹ doanh nghiệp mục tiêu trước khi mua; tích hợp là quá trình hợp nhất con người, hệ thống và văn hoá sau khi giao dịch. Giá trị thường bị mất ở giai đoạn tích hợp hơn là ở giai đoạn ký kết.
Đưa sản phẩm đến khách nước ngoài qua website, hiện diện ảo thay cho hiện diện vật lý.
Tình huống nhà nước không đạt mức bình đẳng; đối ứng với thất bại thị trường và đặt thêm nghĩa vụ đạo đức lên người quản lý.
Thị trường cạnh tranh không đạt phân bổ hiệu quả Pareto vì thiếu cạnh tranh, thông tin không đối xứng, ngoại tác hoặc hàng hoá công.
MNE chịu hai áp lực: giảm chi phí nhờ quy mô và đồng nhất, hay thích nghi với thị trường địa phương.
Xu hướng ước lượng bị kéo về một con số hoặc ý tưởng đầu tiên, dù điều chỉnh sau đó thường không đủ. Trong chiến lược, con số mục tiêu hoặc dự báo ban đầu có thể neo mọi bàn luận sau.
Phán đoán tự động, không chủ ý, làm lệch cách đánh giá người khác; chỉ thành phân biệt đối xử khi dẫn tới đối xử không công bằng.
Xu hướng tâm lý tin rằng người ta nhận đúng điều họ đáng nhận, khiến ta đánh giá thấp bất công thật.
Hệ thống phân loại bằng AI đối xử có hệ thống bất lợi với một nhóm, không nhất thiết do ai có ý định, mà do dữ liệu lệch, biến đại diện hay bất công nền.
Xu hướng tin kết quả của hệ thống tự động một cách thiếu phê phán.
Mẫu nghiêng về một nhóm con của tổng thể (kể cả tự chọn tham gia) nên không phản ánh tổng thể.
Chỉ nhìn các trường hợp còn lại sau chọn lọc (máy bay về được) và bỏ qua phần đã biến mất, nên kết luận lệch.
Đối xử thiên lệch giữa người nhà và người ngoài trong doanh nghiệp gia đình.
Xu hướng đánh giá quá cao khả năng và dự báo của mình, nhất là sau một thành công.
Thiết kế sản phẩm và bao bì để giảm tác động môi trường suốt vòng đời.
Phạm vi mà áp lực thị trường (khách hàng, nhà đầu tư, truyền thông) thật sự thưởng cho doanh nghiệp có trách nhiệm. Vogel thấy phạm vi này hẹp, chủ yếu với thương hiệu bán cho người tiêu dùng giàu.
Cơ chế mà tập đoàn phân bổ vốn giữa các đơn vị thay cho thị trường bên ngoài. Stein cho thấy có thể chuyển vốn đến đơn vị tốt nhất; Scharfstein và Stein chỉ ra mặt trái là các giám đốc đơn vị tranh quyền lợi, đầu tư chưa hiệu quả.
Việc bán hoặc tách một đơn vị kinh doanh để tập trung nguồn lực vào phần còn lại hoặc thu hồi vốn. Tách thành công ty riêng (demerger) là một cách; bán cho bên khác là cách khác.
Giữ cùng giọng điệu và lời hứa trên mọi điểm chạm, từ quảng cáo, website đến cửa hàng, để khách không bị mâu thuẫn.
Số kỳ cần để dòng tiền cộng dồn bù lại vốn ban đầu. Đơn giản, thiên về thanh khoản, nhưng bỏ qua giá trị thời gian và dòng tiền sau điểm hoàn vốn.
Danh sách lỗi AI có thể gây thiệt hại nếu dùng sản phẩm thật, kèm theo mỗi sản phẩm làm bằng AI.
Việc gắn một phần thù lao của lãnh đạo với chỉ tiêu môi trường, xã hội và quản trị. Cohen và cộng sự ghi nhận xu hướng này ở nhiều nước; Li và cộng sự (2024) cho thấy ở Trung Quốc nó có thể đi cùng hành vi 'tẩy xanh'.
Mức thấp nhất đủ để thu hút, giữ chân và tạo động lực cho CEO tối đa hoá giá trị công ty. Phần vượt mức đó không mua thêm hiệu suất.
Màu, kích thước, vị trí… được mắt nhận ra trước khi ta chủ động chú ý, nên dùng để dẫn mắt người xem.
Nhà quản lý phải cân bằng quyền và lợi ích của mọi nhóm bị ảnh hưởng bởi công ty (nhân viên, khách hàng, cộng đồng, cổ đông…), không chỉ cổ đông.
Trách nhiệm nghề nghiệp của nhà quản lý là làm tăng lợi nhuận cho chủ sở hữu, trong khuôn khổ luật và tục lệ đạo đức; mục tiêu xã hội thuộc về chính phủ dân chủ.
Doanh nghiệp ưu tiên tiền nội bộ, rồi nợ, cuối cùng mới phát hành cổ phần, vì thông tin bất cân xứng làm vốn cổ phần đắt.
Mắt người đọc vị trí trên thang chung chính xác hơn độ dài, góc, diện tích hay màu; chọn hình theo đó.
Người làm nghề dừng lại xem xét điều mình đã làm và vì sao, để rút ra cách làm tốt hơn lần sau.
Trung gian thu gom nông sản, ứng tín dụng, vận chuyển trong chuỗi nông nghiệp phân mảnh.
Từ góc nhìn một công ty, thượng nguồn là các hoạt động của nhà cung cấp đưa đầu vào tới, hạ nguồn là các hoạt động của khách hàng đưa sản phẩm đến người dùng.
Việc doanh nghiệp tự thực hiện các công đoạn trước (về phía nhà cung cấp) hoặc sau (về phía khách hàng) trong chuỗi giá trị thay vì mua ngoài. Lợi ích là kiểm soát, chi phí là vốn và mất linh hoạt.
Bốn nhóm tiêu chí thường dùng để chia khách hàng: nhân khẩu học, địa lý, tâm lý (lối sống, tính cách) và hành vi (mức dùng, lòng trung thành).
Phần mực dùng để thể hiện dữ liệu so với tổng mực của hình; càng cao thì hình càng gọn và trung thực.
Tích luỹ của cải bằng cách chiếm phần của người khác thay vì làm to chiếc bánh. Stiglitz cho rằng nhiều thu nhập đỉnh đến từ đây, không phải từ đổi mới.
Tin vào năng lực và độ ổn định của người khác khác với tin vì gắn bó, giá trị chung; loại sau giúp tranh luận nhiệm vụ không thành rạn nứt.
Chuỗi có tính chất thống kê ổn định theo thời gian; nhiều mô hình dự báo cần điều này, thường đạt bằng lấy sai phân.
Mức độ một tài sản được chuyên biệt hoá và khó tìm trên thị trường; càng cao thì càng nên giữ trong công ty.
Các danh tính chồng lên nhau tạo ra bất lợi riêng, không bằng tổng của từng yếu tố tách riêng.
Chọn chiến lược chuỗi theo thị trường: tinh gọn cho nhu cầu dễ đoán, linh hoạt cho nhu cầu biến động, kết hợp cả hai ở hai đoạn của chuỗi.
Việc tăng hoặc cắt cổ tức truyền thông tin riêng của ban lãnh đạo về triển vọng dòng tiền.
Một phát biểu khoa học phải có phép thử có thể chứng minh nó sai; phát biểu không đo được thì khó kiểm chứng.
Khách chỉ trả theo lượng dùng thực tế; hợp với người dùng ít hoặc thất thường.
Quá trình thương mại, công nghệ và đầu tư khiến các nền kinh tế gắn bó và phụ thuộc nhau hơn; có thể hiểu là liên kết xa tăng so với liên kết gần.
Các nước vẫn gắn chặt vào nhau qua mạng tài chính, thông tin, chuỗi cung ứng nên khó tách rời; sự phụ thuộc này lại bị dùng để cưỡng ép đối thủ.
Thông tin được chia sẻ theo chuẩn mực của một bối cảnh; dùng nó ở bối cảnh khác với mục đích khác là vi phạm quyền riêng tư dù đã đồng ý ban đầu.
Thời gian từ khi nhận ra vấn đề đến khi chọn phương án. Shepherd và cộng sự nghiên cứu mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng quyết định qua nhiều bối cảnh môi trường; nhanh không luôn tốt hơn, và kết quả phụ thuộc bối cảnh.
Mức tăng doanh thu tối đa mà công ty tự tài trợ được: ROE nhân tỷ lệ lợi nhuận giữ lại.
Tốc độ tăng đều mỗi năm đưa giá trị đầu kỳ tới giá trị cuối kỳ.
Tổ chức hoạt động trong môi trường rủi ro cao nhưng ít xảy ra sự cố nghiêm trọng, nhờ chú ý liên tục đến dấu hiệu lỗi nhỏ. Weick và cộng sự mô tả năm quá trình tạo nên 'chánh niệm tập thể'.
Tổ chức thiết kế lại quy trình từ đầu đến cuối quanh AI thay vì chỉ gắn AI vào quy trình cũ.
Mục tiêu chọn dự án làm tăng giá trị thị trường vốn chủ; rõ ràng hơn 'tối đa hoá lợi nhuận'.
Tối ưu website và nội dung để xếp hạng cao hơn trên kết quả tìm kiếm cho từ khoá mục tiêu, gồm kỹ thuật, nội dung và liên kết.
Dùng ngôn ngữ SDG để tạo hình ảnh tốt mà không có hành động hay kết quả tương ứng.
Trách nhiệm đạt kỳ vọng hiệu suất và chứng minh đã đạt; là trung tâm của quản lý theo kết quả và của việc đánh giá thay đổi.
Nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với những người và môi trường bị hoạt động của mình tác động, vượt ra ngoài lợi nhuận và luật tối thiểu.
Giữ sản phẩm ở dạng chung đến khi biết nhu cầu thật mới hoàn thiện, đổi lấy tồn kho thấp hơn.
Năng lực nhận biết, hiểu và điều chỉnh cảm xúc của mình và của người khác. Salovey và Mayer (1990) đề xuất khái niệm như một năng lực; Joseph và Newman (2010) hợp nhất các mô hình và cho thấy cách các thành phần tác động đến hiệu quả công việc.
Công cụ trả lời dựa trên tài liệu bạn nạp và dẫn về đoạn gốc để kiểm tra; giảm nhưng không loại bỏ sai sót.
Bản chatbot lưu sẵn chỉ dẫn, tài liệu và khả năng cho một việc lặp lại.
Lấy trung bình các điểm lân cận để làm mượt dao động ngắn hạn và lộ xu hướng.
Ngân hàng, quỹ, công ty bảo hiểm gom vốn, chuyển đổi kỳ hạn và giảm chi phí sàng lọc người vay.
Truyền thông không chỉ thông báo mà phải có kênh phản hồi để nghe lo ngại và điều chỉnh; hiểu sai thay đổi thường là lỗi truyền thông, không phải lỗi nhân viên.
Khả năng lần ngược từng lô hàng về nguồn; điều kiện để chứng nhận và để phát hiện gian lận sớm.
Cho rằng chiến lược và thay đổi nảy sinh từ tranh luận chính trị, giá trị cá nhân và diễn giải bối cảnh của nhà quản lý, không chỉ từ kế hoạch hợp lý.
Khách tự cấu hình sản phẩm hoặc dịch vụ theo ý mình; khác cá nhân hoá ở chỗ người dùng cầm lái.
Hệ thống 1 nhanh, tự động; hệ thống 2 chậm, có cân nhắc. Quyết định tuyển dụng vội vàng khuếch đại hệ thống 1.
Nhìn vấn đề như mạng lưới nguyên nhân, phản hồi và độ trễ, thay vì chuỗi nguyên nhân thẳng.
Cách nhìn coi hai yêu cầu đối lập, như hiệu quả và đổi mới, là cần cùng lúc thay vì phải chọn một. Miron-Spektor và cộng sự đề xuất nhìn nghịch lý ở mức vi mô, qua cách người ta suy nghĩ về vấn đề.
Hai kiểu suy nghĩ: nhanh theo trực giác và chậm có cân nhắc; dùng để mô tả khác biệt giữa chatbot thường và mô hình suy luận.
Niềm tin rằng năng lực có thể phát triển nhờ nỗ lực, chiến lược và phản hồi, đối lập với niềm tin năng lực là cố định. Dweck phổ biến khái niệm; bằng chứng về tác động trong tổ chức vẫn cần đánh giá thận trọng.
Xu hướng một nhóm gắn kết ưu tiên sự đồng thuận hơn việc đánh giá thực tế, khiến phương án thay thế và ý kiến phản biện bị gạt đi. Janis mô tả hiện tượng này qua các quyết định chính sách đối ngoại.
Phần mềm tự chạy các việc lặp lại như chuỗi email, đăng bài, nuôi dưỡng khách tiềm năng và kích hoạt theo hành vi.
Dùng phần mềm nối các ứng dụng để chạy các bước lặp lại theo sự kiện kích hoạt.
Quyết định tự sản xuất hay mua ngoài, dựa trên chi phí tổng và yếu tố chiến lược.
Tránh vốn bên ngoài bằng tiết kiệm, mua đồ cũ, thanh toán trước từ khách và chia sẻ chi phí.
Chính phủ dần dần đổi quy định, giấy phép hoặc thuế để chuyển lợi ích khỏi nhà đầu tư nước ngoài mà chưa tịch thu trực tiếp.
Đo độ mạnh và chiều của quan hệ tuyến tính giữa hai biến định lượng, từ −1 đến +1; không nói gì về nhân quả.
Hai biến cùng biến động chưa có nghĩa biến này gây ra biến kia: có thể do nguyên nhân chung, ngẫu nhiên hoặc chiều ngược lại.
Phần lợi nhuận chia cho cổ đông. Vượt 100% nghĩa là năm đó chi nhiều hơn lợi nhuận kiếm được.
Mức xảy ra của hiện tượng khi chưa có yếu tố đang xét; thiếu nó thì bội số dễ gây hiểu sai.
Phần "mực" dành cho dữ liệu thật nên cao; hệ số nói dối đo mức hình vẽ phóng đại so với dữ liệu.
Tỷ lệ người xem phản hồi bằng thích, bình luận, chia sẻ hoặc nhấp so với tổng số người tiếp cận.
Biến khách hài lòng thành người chủ động giới thiệu thương hiệu bằng truyền miệng, tạo marketing ngang hàng đáng tin.
Quan điểm cho rằng trách nhiệm chính của quản lý là gia tăng lợi nhuận cho chủ sở hữu, trong khuôn khổ luật.
Nguyên tắc đứng trước phải được thoả mãn trước khi xét nguyên tắc sau, và không thể đánh đổi nó lấy lợi ích kinh tế.
Mintzberg quan sát công việc thực tế của quản lý thấy nó rời rạc, nhanh và nhiều tương tác, không giống hình ảnh người lập kế hoạch bình tĩnh. Ông nhóm công việc thành các vai trò liên kết, thông tin và quyết định.
Môi trường trong đó nhân viên có cơ hội đóng góp sáng kiến, được học hỏi và tin lãnh đạo; liên quan đến việc dám thử công nghệ mới.
Chương trình tinh thần chung phân biệt nhóm người này với nhóm khác ở cấp quốc gia, nằm cạnh các văn hoá nghề nghiệp, tôn giáo, vùng và gia đình; tác động đến cách chấp nhận thay đổi.
Tập hợp thái độ, giá trị, niềm tin, chuẩn mực và thói quen phân biệt tổ chức này với tổ chức khác, tức "cách chúng ta làm việc ở đây"; được học, chia sẻ và khá bền.
Người quản lý (đại diện) có thể theo đuổi lợi ích riêng thay vì lợi ích chủ sở hữu; cần giám sát và khuyến khích để thu hẹp khoảng cách.
Phụ tùng, dụng cụ, vật tư tiêu hao dùng để vận hành nhưng không thành sản phẩm.
Dựng ứng dụng bằng cách mô tả ý muốn cho AI sinh mã, người làm tập trung vào ý định hơn là cú pháp.
Dùng video có cảm xúc, câu chuyện và dễ chia sẻ để lan nhanh nhận biết thương hiệu mà không phải mua đủ lượt xem.
Tình huống giả định trong đó các bên chọn nguyên tắc công lý cho xã hội; màn che vô minh là điều kiện thông tin của tình huống này.
Sản phẩm đi qua giới thiệu, tăng trưởng, chín muồi, suy thoái; Vernon dùng để giải thích dịch chuyển đầu tư và thương mại.
Đầu ra thiên lệch của hệ thống được đưa ngược vào làm dữ liệu, làm bất công ngày càng sâu.
Doanh số năm chia cho tồn kho bình quân; càng cao thì vốn nằm trong hàng càng ít nhưng rủi ro hết hàng càng lớn.
Quỹ vốn cổ phần do chuyên gia quản lý, đầu tư vào công ty tăng trưởng cao và hướng tới thoái vốn.
Tài sản ngắn hạn trừ nợ ngắn hạn; phản ánh khả năng trả nghĩa vụ hằng ngày.
Tổng nguồn lực thực và tiềm năng nằm trong mạng quan hệ của một cá nhân hoặc đơn vị.
Viết tắt của biến động, bất định, phức tạp và mơ hồ. Bennett và Lemoine đề nghị phân biệt bốn loại tình huống vì mỗi loại cần phản ứng khác nhau, thay vì gom thành 'thế giới hỗn loạn'.
ADKAR gom ba bước đầu (nhận thức, mong muốn, kiến thức) thành vùng chuẩn bị và hai bước sau (khả năng, củng cố) thành vùng thực thi.
Người có thẩm quyền bỏ qua hoặc vô hiệu hoá kiểm soát, một lý do phổ biến khiến hệ thống kiểm soát thất bại.
Địa chỉ nhận dữ liệu từ hệ thống ngoài ngay khi có sự kiện, để kích hoạt quy trình.
Hệ thống phối hợp mô hình và công cụ theo đường đi định sẵn bằng mã.
Xã hội nơi mọi thứ đều có giá và tư duy thị trường lấn sang lĩnh vực vốn theo chuẩn mực phi thị trường; câu hỏi là giới hạn đạo đức của thị trường.
Sản xuất trong nước rồi bán sang nước ngoài; ít vốn nhưng chịu thuế và chi phí logistics.
Bất đồng về ý tưởng có thể cải thiện quyết định; bất đồng mang tính cá nhân thì phá hoại gắn kết.
Nhánh AI phân tích văn bản như đánh giá và bài đăng để hiểu ý kiến và cảm xúc của khách hàng.
Tài liệu gửi nhiều nhà cung cấp mô tả hạng mục cần mua để họ chào giá.
Tài năng bẩm sinh, xuất thân và may rủi không do ta chọn hay xứng đáng, nên không đủ biện minh cho chênh lệch lớn về kết quả.