Nhà nước trở lại: chủ nghĩa tư bản nhà nước và doanh nghiệp tư nhân
Dành cho chủ doanh nghiệp tư nhân khi đối thủ, khách hàng hoặc đối tác có nhà nước đứng sau. Theo Alami và Dixon (2020), thuật ngữ này chưa có định nghĩa chung; bài tách ba nghĩa và rút ra bốn câu hỏi, do tôi suy ra, để hỏi trước khi quyết định.
Ba trong năm công ty đứng đầu Fortune Global 500 năm 2018 là doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc (Alami và Dixon, 2020, p. 71). Nhiều người gọi hiện tượng này là chủ nghĩa tư bản nhà nước. Nếu bạn điều hành một doanh nghiệp tư nhân và sắp đấu thầu hay hợp tác với công ty có nhà nước đứng sau, cái nhãn đó giúp được gì? Bài đọc bản tổng quan của Alami và Dixon (2020) để trả lời, và nói rõ chỗ nó không trả lời được.
Chủ nghĩa tư bản nhà nước nghĩa là gì?
Không có một nghĩa duy nhất. Alami và Dixon viết rằng thuật ngữ thiếu định nghĩa thống nhất và chỉ một dải rất rộng chính sách, hình thức thể chế và mạng lưới có nhà nước tham gia ở những mức khác nhau (Alami và Dixon, 2020, p. 71). Họ gom các cách dùng vào ba nhóm nghiên cứu.
Ba nghĩa của chủ nghĩa tư bản nhà nước
| Tiêu chí | Quản trị chiến lược | Tư bản so sánh | Kinh tế chính trị toàn cầu |
|---|---|---|---|
| Thuật ngữ chỉ | Một hình thức tổ chức và quản trị công ty | Một biến thể quốc gia của chủ nghĩa tư bản | Nhà nước như một chủ thể trong tài chính toàn cầu |
| Đối tượng nhìn vào | Công ty, chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước | Thể chế quốc gia, quan hệ nhà nước và doanh nghiệp | Quỹ đầu tư quốc gia, doanh nghiệp nhà nước đi ra nước ngoài, vay giữa các nhà nước |
| Câu hỏi chính | Hình thức mới nào xuất hiện, tồn tại được bao lâu, có đi ra nước ngoài không | Nên mô tả ranh giới của nó thế nào, có một hay nhiều biến thể | Động cơ là lợi ích địa chính trị hay lợi nhuận, và hệ quả cho trật tự kinh tế thế giới |
| Địa lý hay nhắc tới | Các nền kinh tế mới nổi và chuyển đổi | Trung Quốc, châu Á, BRICS, tuỳ tác giả | Nam bán cầu, các chế độ châu Á, Trung Quốc và Nga |
Họ kết luận rằng ở thời điểm viết, giá trị phân tích của khái niệm còn yếu vì nó mô tả nhiều mà giải thích ít. Họ không đề nghị bỏ nó, mà muốn làm nó chặt hơn (Alami và Dixon, 2020, pp. 71-72). Theo cách tôi đọc, câu "đối thủ này là tư bản nhà nước" vì thế chưa cho bạn biết gì về cách đối thủ ra quyết định. Bạn phải hỏi tiếp: nghĩa nào?
Nghĩa thứ nhất: công ty có nhà nước giữ vốn cạnh tranh ra sao?
Trong nghiên cứu quản trị chiến lược, thuật ngữ chỉ những công ty mà nhà nước giữ vai trò chiến lược qua sở hữu hoặc kiểm soát vốn (Alami và Dixon, 2020, p. 72). Nhà nước có thể giữ cổ phần đa số hay thiểu số, hoặc đi qua ngân hàng phát triển (Alami và Dixon, 2020, p. 73). Danh sách ấy còn gồm tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp tư nhân và hỗ trợ sáp nhập, mua lại ở ngành chiến lược (Alami và Dixon, 2020, p. 73). Đối thủ được nhà nước hậu thuẫn vì thế không nhất thiết là doanh nghiệp nhà nước.
Tháng 9/2016, Reuters đưa tin Baosteel sẽ mua lại đối thủ nhỏ hơn, nợ nhiều là Wuhan Iron and Steel, tạo nhà sản xuất thép lớn thứ hai thế giới. Cả hai là doanh nghiệp nhà nước; kế hoạch nằm trong nỗ lực của chính phủ Trung Quốc gom ngành thép phân mảnh để cắt công suất thừa, và cần chính phủ phê duyệt (Reuters, 2016). Một nhà phân tích của CRU cho rằng thương vụ chưa chắc dẫn tới cắt giảm công suất (Reuters, 2016). Tôi xếp ca này vào nghĩa thứ nhất và chưa kiểm kết quả sau năm 2016.
Về hiệu quả, văn liệu quản trị truyền thống dự đoán doanh nghiệp nhà nước kém tư nhân trong hầu hết hoàn cảnh, vì can thiệp chính trị (Alami và Dixon, 2020, p. 73). Văn liệu mới coi việc nhiều doanh nghiệp nhà nước hoạt động ngang hoặc hơn tư nhân là một câu đố (Alami và Dixon, 2020, p. 73). Alami và Dixon nói văn liệu này có xu hướng mặc định ảnh hưởng của quan chức là nhiễu, nên khó mô tả công ty vừa hiệu quả vừa phục vụ mục tiêu nhà nước (Alami và Dixon, 2020, p. 74). Suy luận của tôi: đừng xây kế hoạch cạnh tranh trên giả định đối thủ nhà nước chậm.
Nghĩa thứ hai: nhà nước và giới doanh nghiệp quan hệ ra sao?
Ở nhóm tư bản so sánh, thuật ngữ chỉ một biến thể quốc gia. Các tác giả xét mức can thiệp của nhà nước, quan hệ nhà nước và doanh nghiệp (mạng chính sách, hiệp hội ngành, quan hệ cá nhân), và loại nhà nước: thiên về phát triển, săn mồi, điều tiết hay phúc lợi (Alami và Dixon, 2020, p. 76).
Danh sách nước đổi theo tác giả. Carney và Witt (2014) đặt Malaysia, Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ ở phía thiên về phát triển, còn Việt Nam, Philippines, Lào, Indonesia ở phía thiên về săn mồi, trong cùng một kiểu nhà nước dẫn dắt (Alami và Dixon, 2020, p. 76). Witt và cộng sự (2018) bác ý tưởng rằng các nước đó cùng một kiểu; Alami và Dixon tóm vị trí này là nhà nước tư bản mạnh ở khắp nơi, tư bản nhà nước ở không đâu (Alami và Dixon, 2020, pp. 76, 78). Alami và Dixon nhận xét đổi một chút phép đo là một nền kinh tế vào hay ra khỏi nhóm (Alami và Dixon, 2020, p. 78).
Điều tôi rút ra: nhãn quốc gia cho Việt Nam phụ thuộc tác giả và phép đo, nên không dùng được để quyết định một hợp đồng. Điều lệ, cơ cấu sở hữu và người ra quyết định của chính đối tác thì dùng được.
Nghĩa thứ ba: nhà nước là nhà đầu tư và người đi ra nước ngoài
Trong kinh tế chính trị toàn cầu, một chủ đề là nhà nước như nguồn vốn kiên nhẫn. Sau khủng hoảng 2008, các quỹ đầu tư quốc gia châu Á và Trung Đông giúp tái cấp vốn cho ngân hàng và hãng ô tô phương Tây (Alami và Dixon, 2020, p. 79). Với doanh nghiệp tư nhân, nhà nước ở đây có thể là nhà đầu tư chứ không chỉ là đối thủ.
Nhà đầu tư nhà nước không nhất thiết kiểm soát công ty. Quỹ đầu tư quốc gia của Na Uy là ví dụ: cuối năm 2025 quỹ trị giá 21.268 tỷ krone, đầu tư vào 7.201 công ty và nắm trung bình 1,5% cổ phần các công ty niêm yết trên thế giới; quy định không cho quỹ giữ quá 10% cổ phần có quyền biểu quyết của một công ty, trừ công ty bất động sản niêm yết (Norges Bank Investment Management, 2025).
Khi nhà nước đi ra nước ngoài, họ đi vì quốc sách hay vì lợi nhuận? Về các công ty dầu quốc gia, Alami và Dixon kể ba quan điểm: công cụ của quyền lực nhà nước, công ty có đầu óc thương mại, hoặc mô hình lai (Alami và Dixon, 2020, pp. 80-81). De Graaff và van Apeldoorn (2018) cho rằng các công ty năng lượng nhà nước Trung Quốc theo nguyên tắc thương mại ở nước ngoài nhưng giữ trách nhiệm nhà nước ở trong nước, như an ninh năng lượng (Alami và Dixon, 2020, p. 81). Theo cách tôi đọc, một đối tác kiểu đó có thể thương lượng như công ty thương mại hôm nay và theo ưu tiên nhà nước ngày mai; nguồn không cho biết điều này xảy ra thường đến đâu.
Nhà nước mạnh có phải câu trả lời cuối?
Doner (1992) tranh luận đúng điểm này. Theo phần tóm tắt, ông xuất phát từ các phân tích tăng trưởng dùng kinh nghiệm các nước công nghiệp hoá mới ở Đông Á để nêu vai trò của nhà nước gắn kết và tự chủ. Rồi qua ngành ô tô ở năm nước Đông Nam Á và Đông Bắc Á, ông xác định các vấn đề hành động tập thể, xét giới hạn của cả nhà nước mạnh trong việc giải quyết chúng, và nhấn mạnh vai trò của khu vực tư nhân cùng các thể chế công tư chung (Doner, 1992). Xem thêm nhà nước mạnh và cách tiếp cận thể chế. Phần tóm tắt không dùng chữ tư bản nhà nước. Suy luận của tôi: với một doanh nghiệp, câu hỏi về nhà nước nên đi kèm câu hỏi phía tư nhân có tự tổ chức được không.
Một ví dụ giả định: công ty A trước tổng công ty B
Giả sử A là nhà máy bao bì ở Bình Dương, 150 lao động. Tổng công ty B, nơi nhà nước giữ phần vốn lớn, mời A chào giá hợp đồng ba năm. Đối thủ C của A vừa nhận khoản vay ưu đãi từ một ngân hàng phát triển. Toàn bộ ví dụ do tôi bịa; các chữ cái không trỏ tới doanh nghiệp thật.
| Khía cạnh | Câu hỏi của A | Tìm ở đâu |
|---|---|---|
| Nhà nước giữ vốn | Nhà nước giữ bao nhiêu vốn của B, trực tiếp hay qua holding, quỹ? | Điều lệ, báo cáo thường niên |
| Hậu thuẫn đối thủ | C có vay ưu đãi hay bảo lãnh, và khoản đó có đổi giá chào của C không? | Khách hàng chung, báo cáo C công bố |
| Quan hệ | Ai quyết định hợp đồng của B, và có đấu thầu công khai không? | Hồ sơ mời thầu, ban mua hàng |
| Mục tiêu kép | B mua để tối đa lợi nhuận hay còn nghĩa vụ như giữ việc làm, nội địa hoá? | Lịch sử hợp đồng, cách B trả lời |
Cách này hợp nếu A có vài tuần thẩm định trước khi báo giá. Nó không hợp nếu phải quyết trong vài ngày; khi đó điều khoản thanh toán rõ và mức rủi ro ghi sẵn quan trọng hơn bản đồ khái niệm. Bốn câu hỏi là suy luận của tôi, chưa kiểm bằng dữ liệu doanh nghiệp Việt.
Nếu A đi ra nước ngoài thì bài toán đảo chiều. Theo phần tóm tắt của Moschieri, Ravasi và Huy (2024), quan điểm phổ biến cho rằng đối tác địa phương trong liên doanh che chắn công ty đa quốc gia khỏi sự lạm quyền của chính quyền. Nghiên cứu nhiều ca các vụ bị cáo buộc tịch thu tài sản trước Ngân hàng Thế giới cho thấy dựa chủ yếu vào đối tác địa phương có thể tạo ra bất lợi của người trong cuộc: ít kết nối với nhiều bên khác nên chậm nhận ra thù địch. Đó là nghiên cứu về sự thù địch của chính quyền nước chủ nhà; phần tóm tắt không nói tới đối tác nhà nước (Moschieri et al., 2024).
Đào sâu: tôi đọc gì, chưa đọc gì?
Tôi đọc toàn văn Alami và Dixon (2020), qua bản lưu Wayback Machine của PDF nhà xuất bản. Đây là bài tổng quan có quan điểm: các tác giả theo hướng kinh tế chính trị phê phán và nói thẳng họ nghi ngờ giá trị của thuật ngữ (Alami và Dixon, 2020, p. 72). Mọi nhận định về Carney và Witt, Witt và cộng sự, Meckling, De Graaff và van Apeldoorn là cách họ thuật lại; tôi chưa mở nghiên cứu gốc. Họ gợi ý khái niệm state-capital hybrids có thể hữu ích hơn nhãn tư bản nhà nước; họ định nghĩa nó là hình thức chính trị cụ thể làm trung gian cho quan hệ nhà nước và tư bản (Alami và Dixon, 2020, pp. 85, 90).
Với Doner (1992) và Moschieri và cộng sự (2024), tôi chỉ đọc phần tóm tắt nên không biết chi tiết lập luận. Không nguồn nào đo xem doanh nghiệp tư nhân Việt cạnh tranh hay hợp tác với doanh nghiệp có nhà nước đứng sau thì kết quả ra sao.
Hỏi nhanh
Chủ nghĩa tư bản nhà nước có phải chỉ là doanh nghiệp nhà nước?
Không. Doanh nghiệp nhà nước chỉ là một nghĩa, và là nghĩa của nhóm nghiên cứu quản trị chiến lược. Nhóm tư bản so sánh dùng thuật ngữ cho một biến thể quốc gia, nhóm kinh tế chính trị toàn cầu dùng nó cho nhà nước với vai trò nhà đầu tư và người đi ra nước ngoài [@alami-2020, pp. 72-82]. Vì vậy cùng một câu nói có thể chỉ ba đối tượng khác nhau.
Doanh nghiệp nhà nước có kém hiệu quả hơn doanh nghiệp tư nhân không?
Văn liệu quản trị truyền thống dự đoán là có, vì sự can thiệp chính trị; văn liệu gần đây coi việc nhiều doanh nghiệp nhà nước hoạt động ngang hoặc hơn tư nhân là một câu đố cần giải thích [@alami-2020, p. 73]. Alami và Dixon cho rằng văn liệu này có xu hướng mặc định ảnh hưởng của quan chức là nhiễu, nên khó mô tả công ty vừa hiệu quả vừa phục vụ mục tiêu của nhà nước [@alami-2020, p. 74]. Bài này không có số liệu so sánh doanh nghiệp Việt.
Việt Nam có được xếp vào nhóm tư bản nhà nước không?
Tuỳ tác giả. Theo Alami và Dixon, Carney và Witt (2014) xếp Việt Nam vào nhóm nhà nước dẫn dắt thiên về săn mồi, Fainshmidt và cộng sự (2018) đưa Việt Nam vào một danh sách rộng, còn Witt và cộng sự (2018) bác ý tưởng rằng các nước đó cùng một kiểu [@alami-2020, p. 76]. Kurlantzick (2016) xếp Việt Nam vào các kiểu tư bản nhà nước độc đoán [@alami-2020, p. 81]. Tôi chưa đọc các nghiên cứu gốc này.
Công ty tư nhân nên làm gì trước khi hợp tác với công ty có nhà nước đứng sau?
Hỏi xem đối phương thuộc nghĩa nào: nhà nước giữ vốn, nhà nước điều phối qua quan hệ, hay nhà nước là nhà đầu tư. Bảng trong bài rút bốn câu hỏi từ các nghĩa đó cho một ví dụ giả định; đó là suy luận của tôi, các nguồn không kiểm xem cách làm nào hiệu quả. Với đối tác ở nước ngoài, phần tóm tắt của Moschieri, Ravasi và Huy (2024) cảnh báo chủ yếu dựa vào đối tác địa phương có thể làm bạn chậm nhận ra thù địch của chính quyền [@moschieri-2024].
Tài liệu tham khảo
Xếp A–Z theo họ tác giả, kiểu Harvard. Nguồn có DOI thì link https://doi.org/…; nguồn không có DOI thì link trang nguồn hoặc ghi rõ không có DOI.
- Alami, I. and Dixon, A.D. (2020) ‘State capitalism(s) redux? Theories, tensions, controversies’, Competition & Change, 24(1), pp. 70–94.doi:10.1177/1024529419881949Được trích trong 1 bài
- Doner, R.F. (1992) ‘Limits of state strength: toward an institutionalist view of economic development’, World Politics, 44(3), pp. 398–431.doi:10.2307/2010544Được trích trong 1 bài
- Moschieri, C., Ravasi, D. and Huy, Q. (2024) ‘Why do some multinational firms respond better than others to the hostility of host governments? Proximal embedding and the side effects of local partnerships’, Journal of Management Studies, 61(2), pp. 627–685.doi:10.1111/joms.12809Được trích trong 2 bài
- Norges Bank Investment Management (2025) Government Pension Fund Global: annual report 2025 (web report). Annual report.Không có DOInbim.noĐược trích trong 2 bài
- Reuters (2016) China Baosteel's takeover of Wuhan to create world's No. 2 steelmaker. Asia Times.Không có DOIasiatimes.comĐược trích trong 2 bài

Bài này có ích với bạn không?
Chưa có lượt chấm nào.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận, hãy là người đầu tiên.