Tài chính vi mô: khoản vay nhỏ, câu hỏi đạo đức lớn
Dành cho người làm tài chính, nhà đầu tư và chủ doanh nghiệp được mời góp vốn hay hợp tác với một quỹ tín dụng vi mô. Bài đọc bản thảo của Argandoña về đạo đức tài chính vi mô: vay nhóm, lãi suất nhiều khi trên 100% một năm, và ca Compartamos. Kèm một phép tính lãi suất hiệu dụng giả định.
Giả sử một đối tác đề nghị bạn góp vốn cho một quỹ tín dụng vi mô ở nông thôn, và khoe: "tỷ lệ trả nợ 97%". Nghe an toàn, nhưng chưa trả lời ba câu hỏi: người vay trả lãi suất thực bao nhiêu, họ bị ép trả bằng cách nào, và lợi nhuận đi về đâu. Bài này đọc bản thảo của Argandoña (2009, xuất bản thành chương sách năm 2010), một trong rất ít bài bàn riêng về đạo đức tài chính vi mô. Ca nền là Grameen Bank trong thư viện.
Tài chính vi mô là gì, và vì sao vừa được Nobel vừa gây tranh cãi?
Là các khoản vay nhỏ cho người nghèo, đa phần là phụ nữ, không cần tài sản thế chấp vật chất. Theo Argandoña, các đặc điểm thường được nêu (Armendáriz de Aghion và Morduch 2005, dựa trên thực hành của Grameen Bank) gồm cả cho vay theo nhóm, trách nhiệm liên đới, trả góp thường xuyên và công khai, khoản vay tăng dần theo vòng, và tiết kiệm; ông ghi chưa có đồng thuận về từng đặc điểm (Argandoña, 2010). Xem tài chính vi mô và trách nhiệm liên đới.
Năm 2006, giải Nobel Hoà bình được chia đôi giữa Yunus và Grameen Bank, với lời trích dẫn về nỗ lực "tạo ra phát triển kinh tế và xã hội từ bên dưới" (Nobel Foundation, 2006). Trang tóm tắt của Nobel không bàn đến lãi suất hay cách cho vay. Argandoña viết thẳng rằng văn liệu về khía cạnh đạo đức của hoạt động này "rất hạn chế" (Argandoña, 2010).
Vay nhóm ép buộc người vay ở đâu?
Nó ép qua chính đặc điểm nổi bật nhất của mô hình. Theo Argandoña, nhóm dễ hình thành vì các thành viên vốn đã quen biết nhau; nhóm chia sẻ thông tin, mỗi người trả tiền công khai trước cả nhóm, các thành viên giám sát nhau và dùng uy tín, xấu hổ hoặc đe doạ trả đũa làm sức ép lên người không trả (Argandoña, 2010).
Cơ chế ấy mang theo rủi ro. Nhiều tác giả phản đối trách nhiệm liên đới: người hưởng không, chọn lọc ngược (adverse selection), rủi ro đạo đức (moral hazard), và hiệu ứng domino khi một người vỡ nợ kéo cả nhóm theo. Nếu sức ép xã hội phải đủ mạnh để chặn các động cơ lệch lạc đó, theo Argandoña, nó phải rất mạnh, "perhaps unjust" (Argandoña, 2010).
Lãi suất trên 100% một năm có biện hộ được không?
Có người biện hộ, nhưng không phải bằng một lý lẽ duy nhất. Argandoña ghi lãi suất cho vay vi mô thường cao, nhiều khi trên 100% một năm, và liệt kê năm lý lẽ (theo Goodwin-Groen 2004 mà ông dẫn) (Argandoña, 2010):
| Lý lẽ | Điều nguồn nêu | Giới hạn |
|---|---|---|
| Lựa chọn khác cũng tính lãi rất cao | Người cho vay phi chính thức và tiệm cầm đồ có thể đòi tới 20% mỗi ngày | So với người cho vay phi chính thức, không phải với giá thành |
| Lợi suất của vi doanh nghiệp cao | 117% đến 847% ở Ấn Độ, Kenya và Philippines, theo số Liên Hợp Quốc 2005 ông dẫn | Số trung bình của mẫu, không phải của mọi người vay |
| Lãi suất thực gồm phần bù rủi ro | Người cho vay cộng khoản lỗ kỳ vọng vào mọi khoản vay; trả nợ gần 97% nhưng người vay vẫn là nhóm rủi ro cao trước mùa vụ, dịch bệnh, suy thoái | Trả nợ cao đi cùng sức ép nhóm |
| Chi phí vốn vay | Tổ chức vi mô huy động tiền từ nhà đầu tư tư nhân; chi phí cao vì gồm cả phần bù rủi ro của khách | Không nêu số |
| Chi phí vận hành | Khoản vay 50 đô la tốn gần bằng khoản 10.000 đô la để xử lý | Là lý lẽ về quy mô nhỏ, không bàn đến hiệu quả |
Cột "Giới hạn" là nhận xét của tôi. Theo Cull và cộng sự (2008) mà ông dẫn, lãi suất trung vị của tổ chức vi mô phi chính phủ phi lợi nhuận là 25% một năm, của ngân hàng thương mại trên khoản vay thông thường là 13% (Argandoña, 2010).
Rồi Argandoña đặt hai câu hỏi đạo đức. Về chi phí, ông kết luận lãi suất cao có thể được biện hộ bằng cấu trúc chi phí và rủi ro của người vay, nhưng vẫn rất cao. Một, công bằng trong trao đổi (commutative justice): cạnh tranh hạn chế nên khách ít sức thương lượng. Ông viết không thể nói mức cao là bất công, nhưng tổ chức nên nhớ lợi nhuận vượt mức đến từ sức mạnh thị trường chứ không từ hiệu quả, và chính sách trách nhiệm xã hội nên tính cách dùng tốt nhất phần đó, như giảm lãi suất hay tài trợ hoạt động xã hội (Argandoña, 2010). Hai, công bằng trong phân phối: lãi cao nhiều khả năng loại bớt một số khách, có lẽ là người thu nhập thấp nhất; lối ra gồm trợ cấp chéo, trợ cấp bên ngoài, hoặc từ bỏ một phần lợi nhuận miễn là không làm tổ chức mất bền vững (Argandoña, 2010).
Ca Compartamos cho thấy điều gì?
Cho thấy cùng một thương vụ bị đọc theo hai hướng. Theo chú thích của Argandoña, Compartamos lập năm 1990 như tổ chức phi lợi nhuận, thành ngân hàng thương mại năm 2000 (60.000 khách), có 616.000 khách năm 2006, rồi niêm yết năm 2007. Một số tổ chức, như ACCION Internacional, coi thương vụ là mô hình nên theo; số khác phê phán mạnh là phản bội tinh thần cho vay vi mô, vì Compartamos tính khách khoảng 120% một năm so với 31% ở các tổ chức tương tự (Lewis 2008, Yunus 2007, theo lời ông) (Argandoña, 2010). Con số 120% là cơ sở của lời phê phán, không phải kết luận của Argandoña về Compartamos; tôi không đọc hai nguồn gốc.
Lập trường của ông nằm ở phần bàn về lợi nhuận. Ông cho rằng việc phê phán người kiếm lời từ nhóm nghèo nhất là sai lầm: tổ chức vi mô cung cấp nguồn lực giúp người vay cải thiện hoàn cảnh, nên đòi hoàn gốc và lãi là hợp lý, còn nói họ kiếm lời trên lưng người nghèo là coi kinh doanh thành hoạt động cướp đoạt (Argandoña, 2010). Ông nói thêm rằng điều đó chưa giải quyết câu hỏi bền vững với tiếp cận người nghèo nhất (Argandoña, 2010).
Một khoản vay nhỏ thực sự đắt bao nhiêu?
Con số trên hợp đồng thường thấp hơn chi phí thực. Ví dụ giả định, do tôi tính: vay 5 triệu đồng, trả đều 50 tuần, lãi cố định 20% trên gốc. Tiền lãi là 1 triệu, tổng trả 6 triệu, tức 120.000 đồng mỗi tuần. Vì người vay trả gốc dần mà lãi vẫn tính trên toàn gốc, lãi suất hiệu dụng cao hơn nhiều: khoảng 38,5% một năm (nhân lãi suất tuần với 52), hay khoảng 46,7% nếu tính gộp.
Giả sử thêm tiền gửi bắt buộc 5% (250.000 đồng), bị giữ và hoàn ở tuần cuối không lãi. Người vay nhận 4,75 triệu nhưng vẫn trả 120.000 đồng mỗi tuần, nên chi phí lên khoảng 42,1% (52,2% nếu tính gộp). Nguồn không có phép tính này. Nó cho thấy câu hỏi "lãi suất bao nhiêu" vô nghĩa nếu không hỏi cách tính, phí đi kèm và tiền gửi bắt buộc.
Vì sao lệch giữa 20% và 38,5%? Lãi cố định tính trên cả 5 triệu suốt 50 tuần, dù đến tuần cuối người vay chỉ còn nợ gốc của một kỳ. Dư nợ trung bình thực tế chỉ bằng khoảng một nửa khoản vay, nên 1 triệu tiền lãi chiếm phần lớn hơn nhiều so với số tiền thực dùng. Đây là số học trên khoản vay tôi bịa, không phải phát hiện của bài báo; vì vậy hãy đổi cả hai kiểu khoản vay ra lãi suất hiệu dụng hằng năm trước khi so.
Bảng câu hỏi nào dùng được khi làm việc với một tổ chức vi mô?
Đây là năm câu hỏi của tôi, gom từ bản thảo; không phải tiêu chuẩn của Argandoña.
- Lãi suất hiệu dụng hằng năm là bao nhiêu, đã gồm phí và tiền gửi bắt buộc chưa?
- Khoản vay có trách nhiệm liên đới không, và khi một người vỡ nợ thì nhóm chịu gì?
- Khách hàng có chọn được nhà cung cấp khác không, hay thị trường chỉ có một hai bên?
- Lợi nhuận vượt mức được dùng để giảm lãi suất, tài trợ hoạt động xã hội hay chia cho cổ đông?
- Bằng chứng nào về tác động lên khách hàng, và nó đo ở nhóm nào?
Argandoña kết luận tài chính vi mô xứng đáng được đánh giá đạo đức tích cực nếu thực hiện với thận trọng, trung thực và hợp lý, nhưng không phải thuốc chữa bách bệnh (Argandoña, 2010).
Đào sâu: tôi đã đọc gì, chưa đọc gì?
Thư viện ghi nguồn là chương sách năm 2010 của Wiley, có DOI. Bản tôi đọc là bản thảo hội nghị năm 2009 của Mạng lưới Đạo đức Kinh doanh châu Âu (EBEN) đăng trên một cổng thông tin tài chính phát triển; văn bản vẫn viết "This chapter…", nên là bản trước khi xuất bản. Tôi không đưa số trang, và câu trích có thể khác bản chính thức. Argandoña dẫn Goodwin-Groen, Cull, Lewis, Yunus, Rosenberg, Liên Hợp Quốc và Financial Times; tôi không đọc nguồn nào, nên số liệu của họ là lời ông thuật lại. Chú thích 12 về Compartamos chỉ dẫn Rosenberg (đợt niêm yết) và Lewis, Yunus (120% và 31%); các mốc 1990, 2000, 60.000 và 616.000 khách không kèm nguồn.
Trang Nobel tôi đọc là trang tóm tắt; tôi không đọc bài giảng của Yunus. Bài không bàn Grameen Bank sau 2009 hay luật tín dụng vi mô ở Việt Nam. Năm câu hỏi, phép tính lãi suất hiệu dụng và cột "Giới hạn" là của tôi.
Hỏi nhanh
Tài chính vi mô có giúp người nghèo thoát nghèo không?
Argandoña nói các nghiên cứu chưa thống nhất, nhưng nghiêng về chỗ các nghiên cứu thực nghiệm tốt nhất ủng hộ hiệu quả của tài chính vi mô; trong chú thích, các nghiên cứu về việc người nghèo nhất hưởng lợi nhiều hay ít cho kết quả trái nhau [@argandona-2010]. Bài này không kết luận về tác động vì tôi chỉ đọc bản thảo của ông.
Lãi suất trên 100% một năm có luôn là cho vay nặng lãi không?
Argandoña không trả lời bằng một con số. Về chi phí, ông kết luận lãi suất cao có thể được biện hộ bằng cấu trúc chi phí của người cho vay và rủi ro của người vay, nhưng vẫn rất cao [@argandona-2010]. Về công bằng, ông viết không thể nói mức cao là bất công, song lợi nhuận vượt mức đến từ sức mạnh thị trường chứ không từ hiệu quả, và lãi cao nhiều khả năng loại bớt khách thu nhập thấp nhất.
Tại sao Grameen Bank và nhiều quỹ khác giảm tỷ trọng cho vay nhóm?
Bản thảo của Argandoña ghi rằng nhiều tổ chức vi mô không làm việc theo nhóm, và một số tổ chức có làm, trong đó có Grameen Bank, đang giảm tỷ trọng cho vay nhóm trong danh mục [@argandona-2010]. Ông nêu một lý do với giọng dè dặt: có thể vì hiệu quả, vì nhiều lợi ích của việc xử lý tín dụng theo nhóm không cần đến trách nhiệm liên đới.
Doanh nghiệp Việt có nên dùng bài này để đánh giá một quỹ tín dụng vi mô?
Dùng như một danh sách câu hỏi, không như bộ tiêu chuẩn. Bài dựa trên một bản thảo hội nghị năm 2009 và không bàn luật hay thị trường Việt Nam. Bảng năm câu hỏi ở gần cuối là cách gom của tôi từ nguồn đó.
Tài liệu tham khảo
Xếp A–Z theo họ tác giả, kiểu Harvard. Nguồn có DOI thì link https://doi.org/…; nguồn không có DOI thì link trang nguồn hoặc ghi rõ không có DOI.
- Argandoña, A. (2010) ‘Microfinance’, in Boatright, J.R. (ed.) Finance ethics: critical issues in theory and practice. Wiley, pp. 419–434.doi:10.1002/9781118266298.ch22Được trích trong 1 bài
- Nobel Foundation (2006) The Nobel Peace Prize 2006: summary. nobelprize.org.Không có DOInobelprize.orgĐược trích trong 1 bài

Bài này có ích với bạn không?
Chưa có lượt chấm nào.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận, hãy là người đầu tiên.