Công lý cấu trúc: vì sao đối xử bình đẳng chưa đủ
Dành cho chủ doanh nghiệp hoặc trưởng nhân sự có quy chế thăng tiến ghi rõ mọi người được xét như nhau mà một nhóm vẫn không lên được. Iris Marion Young chỉ ra ba trục cấu trúc cần soát: phân công lao động, quyền ra quyết định và chuẩn hoá. Bài kèm bảng soát cho một công ty giả định.

Một công ty kho vận giả định ghi trong quy chế: mọi nhân viên được xét thăng chức theo cùng tiêu chí. Ba năm sau, sáu trưởng ca đều là nam, dù hơn ba phần mười nhân viên là nữ. Không ai vi phạm quy chế. Nếu bạn viết quy chế như vậy và vẫn thấy một nhóm tụt lại, Iris Marion Young cho một cách nhìn để tìm nguyên nhân: câu hỏi không dừng ở việc quy tắc có áp dụng đều hay không, mà ở chỗ quy tắc đứng trên cấu trúc nào.
Đối xử như nhau là gì, và Young phản bác ở đâu?
Young gọi đó là mô hình tự do: công lý và bình đẳng đòi hỏi không phân biệt, tức áp dụng cùng nguyên tắc đánh giá và phân phối cho mọi người bất kể vị thế hay xuất thân. Bà viết rằng các phong trào theo đuổi "chính trị của khác biệt" cho rằng lý tưởng mù khác biệt này là một phần của vấn đề, vì đồng nhất bình đẳng với đối xử như nhau là bỏ qua những khác biệt vật chất sâu về vị thế xã hội, phân công lao động, năng lực được hình thành qua xã hội hoá, chuẩn mực và lối sống, vốn vẫn làm bất lợi cho các nhóm từng bị loại trừ (Young, 2008).
Phản bác của bà nhắm vào một ngầm định: nếu quy tắc công bằng với từng người thì kết quả công bằng. Theo bà, ngay cả khi không có luật hay quy định phân biệt công khai, việc bám theo các chuẩn mực thẩm mỹ cơ thể, tranh giành quyền lực và những động lực khác biệt hoá vẫn có xu hướng tái tạo các bất bình đẳng theo nhóm, trừ khi thể chế chủ động hành động để chống lại (Young, 2008). Theo tôi, đó là lý do một quy chế sạch về câu chữ chưa đủ làm bằng chứng cho một nơi làm việc công bằng.
Ba trục cấu trúc: phân công lao động, quyền ra quyết định, chuẩn hoá
Young định nghĩa nhóm xã hội theo kiểu cấu trúc: các quá trình xã hội đặt người ta ở những vị trí khác nhau dọc những trục sinh ra địa vị, quyền lực và cơ hội phát triển năng lực hay có được của cải (Young, 2008). Trong những trục bà liệt kê có phân công lao động xã hội, thứ bậc quyền ra quyết định, thực hành tính dục và thẩm mỹ cơ thể, và cách sắp xếp con người trong không gian vật lý và xã hội (Young, 2008). Thư viện của site rút ba trục: hai trục đầu và chuẩn hoá, cạnh trọng tâm của Rawls là phân phối của cải và cơ hội. Tôi chưa đọc Rawls (2001) nên chỉ mô tả ông theo thẻ này.
Bất công cấu trúc
Khi chính sách tuyển dụng, thăng tiến đã đối xử như nhau mà một số nhóm vẫn tụt lại, lãnh đạo doanh nghiệp cần nhìn vào cấu trúc nào để tìm ra nguyên nhân?
Young nêu thêm một chi tiết: bất công cấu trúc được xác định bởi mức độ dễ bị tổn thương và những giới hạn mà người ta gặp, nhiều hơn bởi lượng của cải hay quyền lực họ đang có tại một thời điểm (Young, 2008). Theo tôi, một nhân viên lương cao vẫn có thể ở trong một vị trí không có đường lên.
Chuẩn hoá hoạt động thế nào ở nơi làm việc?
Theo tôi, chuẩn hoá khó thấy nhất trong ba trục, nên Young dùng ví dụ. Với người khuyết tật, bà lập luận vấn đề không nằm ở thuộc tính của từng người mà ở chỗ không khớp giữa thuộc tính đó và các cấu trúc, thực hành, chuẩn mực đang thống trị. Bà nêu bố trí vật lý và thiết bị ở nơi làm việc, cách tổ chức quy trình làm việc, và những cách đánh giá năng lực trong trường học và nơi làm việc. Bà viết rằng người kỹ sư mù chẳng được an ủi bao nhiêu khi chủ bảo công ty cấp cùng loại máy tính cho mọi nhân viên (Young, 2008). Bà nhắc Đạo luật Người khuyết tật Hoa Kỳ (ADA), vốn đòi chủ thuê lao động điều chỉnh hợp lý theo nhu cầu cụ thể của người khuyết tật, như một dạng pháp điển hoá cách nhìn này, đồng thời ghi nhận luật đó gây tranh cãi về ai được coi là khuyết tật và điều chỉnh nào là hợp lý (Young, 2008).
Với giới, bà viết rằng đa số chủ thuê lao động thể chế hoá giả định rằng người giữ một việc tốt, đủ nuôi gia đình ở mức sống khá, có lương hưu, ngày nghỉ và an toàn việc làm, có thể dồn chủ yếu thời gian cho việc đó. Người có trách nhiệm gia đình va chạm với kỳ vọng của chủ bị coi là lệch chuẩn, và họ khó kết hợp công việc thật với trách nhiệm gia đình. Bà cũng cho rằng, ở xã hội bà phân tích, phụ nữ gánh phần lớn việc chăm sóc không lương trong gia đình (Young, 2008). Đó là nhận định của Young về xã hội đó; tôi không có số liệu cho Việt Nam.
Theo tôi, hai ví dụ có điểm chung: không ai ra quy tắc để loại người khuyết tật hay người chăm con nhỏ. Quy tắc nào cũng áp dụng đều. Cái bị chuẩn hoá là hình mẫu của "nhân viên bình thường".
Công ty Z soát ba trục trong một tuần như thế nào?
Ví dụ này hoàn toàn giả định; "Công ty Z" và các số liệu do tôi dựng, không thuộc về doanh nghiệp nào. Công ty Z là kho vận 60 người, 22 nữ, 38 nam. Quy chế thăng tiến ghi: mọi nhân viên có ít nhất ba năm kinh nghiệm, sẵn sàng nhận ca đêm và tăng ca cuối tuần đều được xét làm trưởng ca. Sáu trưởng ca hiện tại đều là nam. Mười bốn người có chứng chỉ xe nâng, trong đó một nữ; cả sáu trưởng ca nằm trong nhóm đó. Chủ muốn biết vì sao. Bảng sau soát từng trục; câu hỏi soát và việc kiểm là suy luận của tôi từ ba trục trong thẻ thư viện, không phải kết luận của Young.
| Trục | Câu hỏi soát | Dữ kiện giả định ở Công ty Z | Việc kiểm trong một tuần |
|---|---|---|---|
| Phân công lao động | Vị trí nào mở đường lên, vị trí nào cụt đường? | Chứng chỉ xe nâng gần như là điều kiện lên trưởng ca; 13 trong 14 người có chứng chỉ là nam | Lập danh sách ai được cử đi học xe nâng trong ba năm và ai chọn họ |
| Quyền ra quyết định | Ai có mặt khi phân ca, đặt định mức, duyệt thưởng? | Họp kế hoạch tuần chỉ có chủ và trưởng ca | Ghi lại ai dự những cuộc họp đó và ai được hỏi ý kiến trước |
| Chuẩn hoá | "Nhân viên tận tâm" được hiểu thế nào, theo ai? | Sẵn sàng nhận ca đêm và tăng ca đột xuất được coi là dấu hiệu tận tâm | Hỏi từng người đã từ chối cơ hội nào, vì lý do gì |
Giả sử kết quả cho thấy việc cử đi học do trưởng ca đề cử, và lý do hai nữ nhân viên bỏ tăng ca là đón con. Khi đó vấn đề không nằm ở một người phân biệt. Nó nằm ở chuỗi: ai được học thì mới được xét, ai dự họp thì mới được hỏi ý kiến, ai không đáp ứng giờ giấc bị coi là thiếu tận tâm. Trong chuỗi ấy, quy chế "xét như nhau" vẫn đúng từng chữ. Hướng sửa có thể là mở đăng ký học xe nâng cho mọi người, đưa một đại diện của nhân viên vào họp tuần, và định nghĩa lại "tận tâm" bằng kết quả thay vì giờ có mặt. Cả ba là gợi ý của tôi, không phải khuyến nghị của Young.
Cách nhìn này hợp khi nào, không hợp khi nào?
Hợp nếu bạn đã viết quy chế công bằng mà dữ liệu thăng tiến, đào tạo hoặc nghỉ việc vẫn lệch theo nhóm, và bạn muốn tìm cấu trúc đứng sau thay vì đi tìm người xấu. Hợp nếu bạn có đủ dữ liệu theo nhóm và được phép dùng.
Không hợp nếu bạn chỉ có vài người và mọi quyết định do một người làm, vì lúc đó bạn nên nói chuyện với từng nhân viên hơn là soát cấu trúc. Không hợp nếu bạn tính dùng bảng soát như bằng chứng pháp lý; Young viết lý thuyết chính trị, không phải bài kiểm tra tuân thủ. Và việc sửa một trục có chi phí thật: mở đào tạo cho mọi người tốn tiền và giờ công, đổi tiêu chí lên trưởng ca có thể làm người đang giữ vị trí lo ngại. Bài của Young không cung cấp số liệu về chi phí hay hiệu quả đó.
Để đọc thêm về ba loại phân biệt đối xử và cách một công ty nhận ra từng loại, xem bài ba loại phân biệt; bài này nằm ở loại cấu trúc của khung đó.
Đào sâu: tôi đã đọc gì, và chưa kiểm được gì?
Tôi đọc toàn văn bài "Structural Injustice and the Politics of Difference" của Iris Marion Young (2008) qua một bản in năm 2007 của một nhà xuất bản khác, có phân trang riêng. Thư viện ghi nguồn là chương trong sách do Routledge-Cavendish xuất bản năm 2008, trang 289-314, nên tôi không dùng số trang và không trích nguyên văn, chỉ diễn đạt lại. Tôi không đọc được Young (2006), bài mà thẻ thư viện cũng ghi làm nguồn gốc, nên không trích. Tôi chưa đọc Rawls (2001) và chỉ mô tả ông theo thẻ thư viện.
Ba giới hạn. Một, ví dụ của Young chủ yếu về Hoa Kỳ và châu Âu; bài không bàn Việt Nam, và tôi không có dữ liệu Việt Nam. Hai, đây là lý thuyết chính trị, không đo hiệu quả của việc sửa cấu trúc. Ba, Công ty Z, bảng soát và các hướng sửa là suy luận và giả định của tôi, chưa kiểm trên doanh nghiệp thật.
Hỏi nhanh
Bất công cấu trúc khác phân biệt đối xử ở điểm nào?
Phân biệt đối xử thường chỉ một hành vi hay quy tắc đối xử một người kém hơn người khác. Young nói bất công cấu trúc nằm ở cách các thể chế, quy tắc, chuẩn mực và hành động của nhiều người cùng đặt một nhóm vào vị thế bất lợi, kể cả khi quy tắc nào cũng áp dụng như nhau cho mọi người (Young, 2008). Tôi không so với định nghĩa pháp lý nào, vì bài của bà là lý thuyết chính trị.
Có phải mọi người trong nhóm bất lợi đều bị thiệt không?
Không. Young viết các bất bình đẳng cấu trúc không quyết định rằng mọi thành viên của nhóm kém thuận lợi đều bị thiếu thốn hay bị chi phối; chúng làm đa số thành viên dễ bị tổn thương hơn và gặp nhiều trở ngại hơn (Young, 2008). Theo tôi, với doanh nghiệp, điều này có nghĩa là thấy một người thành công trong nhóm đó chưa chứng minh cấu trúc công bằng.
Soát ba trục có bắt buộc phải thu dữ liệu theo nhóm không?
Phần lớn câu hỏi trong bảng cần biết ai đứng ở đâu, nên thường cần thống kê theo nhóm. Young lập luận rằng muốn gỡ bất bình đẳng thì phải nhận ra sự khác biệt giữa các nhóm (Young, 2008). Việc thu và dùng dữ liệu như vậy phải theo luật dữ liệu cá nhân và lao động nơi bạn hoạt động; bài này không phải tư vấn pháp lý và tôi không kiểm các quy định đó.
Bài của Young có đo hiệu quả của việc sửa cấu trúc không?
Không. Đây là bài lý thuyết chính trị, không thử nghiệm hay đo kết quả của bất kỳ chính sách nào trong doanh nghiệp (Young, 2008). Bảng soát ở cuối bài là suy luận của tôi, và các số liệu của Công ty Z đều giả định.
Tài liệu tham khảo
Xếp A–Z theo họ tác giả, kiểu Harvard. Nguồn có DOI thì link https://doi.org/…; nguồn không có DOI thì link trang nguồn hoặc ghi rõ không có DOI.
- Young, I.M. (2008) ‘Structural injustice and the politics of difference’, in Intersectionality and beyond. Abingdon: Routledge-Cavendish, pp. 289–314.doi:10.4324/9780203890882-23Được trích trong 1 bài

Bài này có ích với bạn không?
Chưa có lượt chấm nào.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận, hãy là người đầu tiên.