Lãi mà vẫn cạn tiền: chu kỳ chuyển hoá tiền mặt cho chủ SME
Dành cho chủ SME và kế toán trưởng thấy báo cáo ghi lãi mà tài khoản ngân hàng vơi dần. Một ví dụ giả định cho thấy lãi biến thành phải thu và tồn kho ra sao, cách tính số ngày, và bằng chứng từ 1.009 công ty Bỉ.
Báo cáo kết quả kinh doanh năm nay của một nhà phân phối thực phẩm khô ghi lãi sau thuế 1.280 triệu đồng. Số dư tài khoản ngân hàng cuối năm là 620 triệu, thấp hơn đầu năm 880 triệu. Chủ doanh nghiệp hỏi kế toán: lãi đi đâu? Công ty này do tôi dựng để minh hoạ; mọi con số về nó trong bài là giả định.
Vì sao công ty có lãi mà tiền mặt vẫn giảm?
Vì lãi và tiền được ghi theo hai quy tắc khác nhau. Theo kế toán dồn tích, doanh thu ghi khi hàng đã giao và chi phí ghi khi phát sinh, bất kể lúc tiền di chuyển. Khoảng cách giữa lãi và tiền nằm ở phải thu, tồn kho và phải trả.
Ví dụ giả định. Nhà phân phối bán cho siêu thị, hợp đồng thanh toán sau 60 ngày. Doanh thu năm nay 18.000 triệu đồng, tăng 50% so với 12.000 triệu năm trước, biên lợi nhuận gộp 20% cả hai năm. Năm nay: chi phí hoạt động bằng tiền 1.800, khấu hao 120, lãi vay 80, thuế 20% trên lợi nhuận trước thuế 1.600 là 320, nên lãi sau thuế 1.280. Thuế và lãi vay trả bằng tiền trong năm.
| Khoản mục (triệu đồng, giả định) | Cuối năm trước | Cuối năm nay | Thay đổi |
|---|---|---|---|
| Doanh thu cả năm | 12.000 | 18.000 | +6.000 |
| Giá vốn cả năm | 9.600 | 14.400 | +4.800 |
| Phải thu khách hàng | 1.800 | 3.500 | +1.700 |
| Tồn kho | 1.320 | 2.400 | +1.080 |
| Phải trả nhà cung cấp | 1.200 | 1.800 | +600 |
| Tiền mặt | 1.500 | 620 | −880 |
Ba báo cáo tài chính liên kết với nhau đúng ở chỗ này. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp gián tiếp xuất phát từ lãi sau thuế, cộng khấu hao, điều chỉnh theo biến động vốn lưu động, rồi ra tiền cuối kỳ trên bảng cân đối:
| Dòng tiền năm nay (triệu đồng, giả định) | Số tiền |
|---|---|
| Lãi sau thuế | 1.280 |
| Cộng khấu hao (không phải tiền) | +120 |
| Phải thu tăng | −1.700 |
| Tồn kho tăng | −1.080 |
| Phải trả tăng | +600 |
| [[term:operating-cash-flow | Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh]] |
| Mua tài sản cố định | −300 |
| Vay thêm ngân hàng | +400 |
| Trả cổ tức | −200 |
| Tiền mặt thay đổi | −880 |
Lãi giữ lại tăng 1.280 − 200 = 1.080; tiền cuối kỳ 1.500 − 880 = 620. Đây là đẳng thức kế toán chuẩn nên tôi không dẫn nguồn. Hoạt động kinh doanh tiêu 780 triệu mà công ty vẫn chia cổ tức 200 và vay thêm 400.
Chu kỳ chuyển hoá tiền mặt tính thế nào?
Cộng ngày phải thu với ngày tồn kho, rồi trừ ngày phải trả. Deloof gọi chu kỳ chuyển hoá tiền mặt là khoảng trễ giữa lúc chi tiền mua nguyên liệu và lúc thu tiền bán thành phẩm; càng dài thì càng nhiều vốn nằm trong vốn lưu động (Deloof, 2003, p. 3). Ông tính phải thu nhân 365 chia doanh thu, tồn kho nhân 365 chia giá vốn, phải trả nhân 365 chia giá mua vào (Deloof, 2003, p. 4). Khung chu kỳ vốn lưu động dùng cùng ba thành phần.
Tôi dùng quy ước gần như vậy: số dư cuối năm, 365 ngày, phải thu chia doanh thu, tồn kho và phải trả chia giá vốn. Chia theo giá mua vào (15.480, bằng giá vốn cộng 1.080 tồn kho tăng) thì ngày phải trả là 42 thay vì 46.
Số ngày của nhà phân phối giả định
| Tiêu chí | Cuối năm trước (giả định) | Cuối năm nay (giả định) |
|---|---|---|
| Ngày phải thu | 55 | 71 |
| Ngày tồn kho | 50 | 61 |
| Ngày phải trả | 46 | 46 |
| Chu kỳ chuyển hoá tiền mặt | 59 | 86 |
Siêu thị trả sau 71 ngày thay vì 60 theo hợp đồng, và hàng nằm kho 61 ngày thay vì 50. Vốn lưu động hoạt động (phải thu cộng tồn kho trừ phải trả) tăng từ 1.920 lên 4.100, thêm 2.180. Nếu số ngày giữ nguyên như năm trước, doanh thu tăng 50% chỉ cần 2.880, thêm 960; 1.220 còn lại là cái giá của 27 ngày dài thêm. Lãi sau thuế cộng khấu hao là 1.400, nên riêng phần vốn lưu động cho tăng trưởng vẫn tự trang trải được (chưa tính tài sản cố định và cổ tức): chính chu kỳ dài ra làm dòng tiền âm.
Theo nhận xét của tôi, quy ước này coi doanh thu đều qua các tháng, nên doanh nghiệp tăng nhanh sẽ thấy ngày phải thu bị thổi cao.
Rút ngắn mỗi ngày giải phóng được bao nhiêu tiền?
Một ngày phải thu tương đương 18.000 chia 365, khoảng 49,3 triệu đồng; một ngày tồn kho hoặc phải trả tương đương 14.400 chia 365, khoảng 39,5 triệu. Nhân số ngày muốn rút với con số đó ra tiền giải phóng, trước khi tính chi phí của việc làm đó.
| Đòn bẩy (giả định) | Thay đổi | Tiền giải phóng (triệu đồng) | Cách tính |
|---|---|---|---|
| Thu tiền siêu thị | Phải thu 71 xuống 60 ngày | 541 | 3.500 − 18.000 × 60 / 365 |
| Giảm tồn kho | Bớt 10 ngày | 395 | 10 × 14.400 / 365 |
| Trả nhà cung cấp chậm | Phải trả 46 lên 60 ngày | 567 | 14.400 × 60 / 365 − 1.800 |
Cộng ba dòng được khoảng 1.503 triệu, đủ bù 880 triệu đã mất. Đó là phép tính, chưa phải dự báo. Deloof nêu phía bên kia: tồn kho lớn giảm rủi ro hết hàng, và tín dụng thương mại rộng có thể thúc đẩy doanh số vì khách được kiểm hàng trước khi trả (Deloof, 2003, p. 2). Siêu thị trả sớm hơn có thể đòi giảm giá, và hết hàng có thể mất chỗ trên kệ (suy luận của tôi). Hai chi phí đó không có trong bảng. Cách tính này hợp với doanh nghiệp bán chịu hoặc giữ nhiều hàng, ít giúp khi thu tiền ngay lúc bán.
Kéo dài ngày trả nhà cung cấp có phải cách rẻ nhất?
Chưa chắc. Nó giải phóng nhiều tiền, nhưng chi phí nằm ở chiết khấu thanh toán sớm và ở quan hệ với nhà cung cấp. Deloof dẫn khảo sát năm 1996 của Svensson: 75% công ty Bỉ chào chiết khấu cho thanh toán nhanh, trung bình 3% (Deloof, 2003, p. 2). Bài chỉ biết khảo sát đó qua Deloof.
Một phép tính với điều kiện giả định "2/10, net 45": chiết khấu 2% nếu trả trong 10 ngày, nếu không thì trả đủ trong 45 ngày. Bỏ chiết khấu là vay 35 ngày với giá 2/98, khoảng 2,04%. Quy ra năm theo lãi đơn: 2,04% × 365/35, khoảng 21,3%. Nếu bạn vay vốn lưu động với lãi thấp hơn nhiều, trả sớm lấy chiết khấu có lợi hơn giữ tiền. Công ty trong ví dụ đã trả sau 46 ngày trong khi điều kiện là 45, nên kéo lên 60 ngày là trả trễ, không phải dùng tín dụng được phép.
Dữ liệu Bỉ không cho thấy trả chậm là có lợi. Số ngày phải trả trung vị ở hai nhóm lợi nhuận hoạt động gộp thấp nhất là 62,5 và 65,8 ngày, còn các nhóm khác từ 47,1 đến 54,3 ngày (Deloof, 2003, p. 10). Deloof nói số liệu phù hợp với giả thuyết công ty kém lãi trả hoá đơn chậm hơn (Deloof, 2003, p. 10): trả chậm là hậu quả của thiếu tiền, không phải bằng chứng nó giúp ích.
Deloof tìm thấy gì ở 1.009 công ty Bỉ, và đáng tin đến đâu?
Ông thấy ngày phải thu và ngày tồn kho dài hơn đi cùng lợi nhuận thấp hơn, nhưng quan hệ yếu đi khi đo lợi nhuận sau khấu hao. Mẫu gồm 1.009 công ty lớn phi tài chính của Bỉ, 5.045 quan sát công ty-năm trong 1992 đến 1996 (Deloof, 2003, p. 4). Chu kỳ chuyển hoá tiền mặt trung bình 44,5 ngày, trong đó phải thu 54,6, tồn kho 46,6, phải trả 56,8 ngày (Deloof, 2003, p. 5).
Trong hồi quy hiệu ứng cố định, mỗi ngày phải thu tăng thêm đi cùng lợi nhuận hoạt động gộp thấp hơn 0,048 điểm phần trăm (trên tổng tài sản trừ tài sản tài chính; mức trung bình là 12,2%) (Deloof, 2003, pp. 4-5, 7). Ngày tồn kho cũng có hệ số âm (p = 0,015) (Deloof, 2003, p. 7). Riêng chu kỳ gộp ba thành phần thì hệ số không khác không (p = 0,668); Deloof giải thích rằng phải thu, tồn kho và phải trả đều đi cùng lợi nhuận thấp hơn, mà phải trả lại bị trừ khi tính chu kỳ (Deloof, 2003, p. 8).
Với lợi nhuận hoạt động ròng (sau khấu hao), hệ số tồn kho không có ý nghĩa thống kê (Deloof, 2003, p. 9), và hệ số của chu kỳ ở hồi quy hiệu ứng cố định còn dương, 0,10 × 10⁻³, p = 0,006 (Deloof, 2003, p. 15). Phần chữ của bản thảo không bàn dấu dương này.
Giới hạn thứ nhất là nhân quả: Deloof viết rằng không loại trừ được khả năng lợi nhuận tác động lên vốn lưu động, chẳng hạn doanh số giảm làm lợi nhuận giảm và tồn kho tăng (Deloof, 2003, p. 9). Giới hạn thứ hai là phạm vi: một nước, năm năm, công ty lớn, và chỉ công ty có báo cáo đủ các năm 1991 đến 1996 (Deloof, 2003, p. 3), điều kiện mà theo suy luận của tôi loại công ty biến mất giữa chừng. Mẫu không có doanh nghiệp nhỏ hay Việt Nam.
Đào sâu: bài dựa trên những gì, chưa dựa trên gì?
Bài dùng toàn văn bản thảo của Deloof (2003) trên kho lưu trữ của Đại học Antwerp, 16 trang (Deloof, 2003, p. 1). Số trang trong bài đếm theo tệp PDF, trang bìa là trang 1, nên lệch một so với số in trên bản thảo và không phải số trang in của Journal of Business Finance & Accounting. Thư viện site ghi trang 573–587; Crossref và OpenAlex ghi 573–588; bản in chưa được đối chiếu.
Bản thảo có một chỗ lệch: trang 5 ghi trung vị chu kỳ là 59,6 ngày, nhưng bảng I ở trang 12 ghi 59,56 ở cột độ lệch chuẩn và 34,59 ở cột trung vị. Bài chỉ dùng số trung bình.
Khung chu kỳ vốn lưu động của thư viện ghi nguồn gốc là Richards và Laughlin (1980). Không có bản toàn văn hợp pháp, chỉ có vài dòng đầu qua OpenAlex, nên định nghĩa lấy từ Deloof. Khung ba báo cáo ghi nguồn là sách của Elliott và Elliott (2019); bài không dùng đoạn nào của sách và coi các phép nối là đẳng thức kế toán chuẩn. Nhà phân phối và mọi con số trong các bảng là giả định do tôi bịa, tính bằng script.
Hỏi nhanh
Chu kỳ chuyển hoá tiền mặt âm nghĩa là gì?
Nghĩa là số ngày nhà cung cấp cho nợ vượt tổng số ngày bạn giữ hàng và chờ khách trả. Trong mẫu của Deloof có công ty ở mức âm 155,7 ngày và có công ty tới 515,3 ngày [@deloof-2003, p. 12]. Bản thảo không nêu âm là tốt hay xấu; ở dữ liệu của ông, hai nhóm kém lãi nhất lại là hai nhóm trả nhà cung cấp chậm nhất [@deloof-2003, p. 10].
Số ngày tồn kho nên chia cho giá vốn hay doanh thu?
Deloof chia phải thu cho doanh thu, tồn kho cho giá vốn và phải trả cho giá mua vào, tất cả nhân 365 [@deloof-2003, p. 4]. Shin và Soenen dùng một chỉ số khác là chu kỳ thương mại ròng, tính cả ba khoản trên doanh thu. Deloof ước lượng lại các hồi quy với chỉ số đó và nói kết quả xác nhận, nhưng không công bố bảng [@deloof-2003, p. 5]. Điều cần giữ là dùng cùng một quy ước giữa các kỳ.
Trả nhà cung cấp sớm để lấy chiết khấu có làm lợi nhuận hoạt động tăng không?
Với mẫu Bỉ thì thước đo của Deloof không bắt được lợi ích đó: chiết khấu thanh toán sớm phải ghi vào thu nhập tài chính, không vào thu nhập hoạt động [@deloof-2003, p. 6]. Ông nêu rằng công ty Bỉ thường nhận chiết khấu đáng kể, nên trả quá chậm có thể làm mất khoản đó; đây là một giải thích khả dĩ cho tương quan âm giữa ngày phải trả và lợi nhuận, ông không kiểm riêng [@deloof-2003, p. 6]. Theo suy luận của tôi, muốn biết chiết khấu có đáng hay không thì đặt chi phí quy năm của nó cạnh lãi suất vay của chính bạn.
Tỷ số thanh toán hiện hành vẫn tốt thì có cần tính số ngày không?
Có. Trong ví dụ giả định của bài, tài sản ngắn hạn chia nợ ngắn hạn chỉ giảm từ 3,85 xuống 3,62 (coi khoản vay ngân hàng là nợ dài hạn) trong khi tiền mặt giảm gần 59%. Tỷ số đó cho biết tài sản ngắn hạn lớn hơn nợ ngắn hạn ở một thời điểm, không cho biết tài sản nằm ở dạng nào hay mất bao lâu mới thành tiền. Số ngày trả lời đúng câu hỏi thứ hai. Đây là nhận xét từ số liệu bịa, không phải bằng chứng.
Tài liệu tham khảo
Xếp A–Z theo họ tác giả, kiểu Harvard. Nguồn có DOI thì link https://doi.org/…; nguồn không có DOI thì link trang nguồn hoặc ghi rõ không có DOI.
- Deloof, M. (2003) ‘Does working capital management affect profitability of Belgian firms?’, Journal of Business Finance & Accounting, 30(3–4), pp. 573–587.doi:10.1111/1468-5957.00008Được trích trong 1 bài

Bài này có ích với bạn không?
Chưa có lượt chấm nào.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận, hãy là người đầu tiên.