Đạo đức & quản trị công tyĐăng 10 phút đọcCó bản English

Làm tốt thì có lãi: bốn câu hỏi trước khi tin

Dành cho chủ doanh nghiệp hoặc ban điều hành được đề xuất đầu tư ESG với lý do 'làm tốt thì có lãi'. Bài dùng bốn cổng kiểm (đo, nhân quả, vượt tương quan, động cơ) để đọc lại một tuyên bố nổi tiếng trong thư của Larry Fink năm 2019 và đặt Vogel (2005) cạnh Friede (2015).

Xem .mdLinkedIn

Năm 2019 Larry Fink, người đứng đầu BlackRock, viết cho các CEO rằng mục đích không phải là theo đuổi lợi nhuận duy nhất mà là lực thúc đẩy để đạt lợi nhuận, và lợi nhuận với mục đích "gắn chặt không tách rời" (Fink, 2019). Câu này nghe hợp lý và được lặp lại nhiều. Khi một đề xuất ESG chuyển đến bàn bạn với cùng lý do, bạn có cách nào kiểm nó trước khi chi tiền không?

Fink nói chính xác điều gì?

Bức thư năm 2019 của Fink có ba phát biểu liên quan. Thứ nhất, mục đích không phải theo đuổi lợi nhuận duy nhất mà là lực thúc đẩy để đạt được nó. Thứ hai, công ty hoàn thành mục đích và trách nhiệm với các bên liên quan sẽ gặt quả dài hạn, còn công ty phớt lờ sẽ vấp ngã và thất bại. Thứ ba, khi của cải chuyển sang thế hệ trẻ và sở thích đầu tư đổi thay, các vấn đề ESG sẽ trọng yếu hơn với định giá doanh nghiệp (Fink, 2019). Bức thư (bản web, không đánh số trang) cũng nêu các ưu tiên tham gia cổ đông của BlackRock năm 2019: quản trị (gồm đa dạng hội đồng), chiến lược và phân bổ vốn, thù lao dài hạn, rủi ro và cơ hội môi trường, vốn nhân lực (Fink, 2019). Xem hồ sơ thư của Larry Fink năm 2019.

Trong toàn thư không có nghiên cứu nào về kết quả tài chính được dẫn làm căn cứ cho vế "vấp ngã và thất bại". Theo cách đọc của tôi, phát biểu nghe như một quy luật, trong khi nó viết theo lối quan điểm của người lãnh đạo.

Cổng M: tuyên bố đo cái gì?

Câu hỏi đầu tiên: "làm tốt" và "có lãi" được đo bằng gì, trong bao lâu? Fink không đưa chỉ số; bức thư nói về mục đích và các bên liên quan, nên không thể đối chiếu với dữ liệu. Đây không phải lỗi riêng của ông: vấn đề đo lường là vấn đề của cả lĩnh vực. Vogel cho biết không có đồng thuận về thế nào là hành vi doanh nghiệp có đạo đức, và CSR nhiều chiều nên khó đánh giá một công ty (một công ty có thể tốt về môi trường và kém về lao động) (Vogel, 2005, pp. 4-5).

Norman và MacDonald phê phán một dạng khác của cùng vấn đề, ở khái niệm "ba lớp lợi nhuận" (kinh tế, xã hội, môi trường). Họ lập luận rằng theo hiểu biết của họ chưa ai đề xuất cách dùng dữ liệu xã hội để tính ra một "lợi nhuận ròng xã hội" kiểu lãi lỗ, và các giá trị liên quan không có đơn vị chung (Norman và MacDonald, 2004). Bài dựa vào bản thảo "In Press" tháng 3/2003, không phải bản đăng tạp chí, nên không trích trang. Nếu không đo được, tuyên bố chưa kiểm chứng được; nó chưa bị bác bỏ, chỉ chưa có gì để kiểm.

Cổng C: lãi đến trước hay ESG đến trước?

Giả sử có tương quan dương giữa điểm ESG và lợi nhuận. Có hai cách đọc: ESG tạo ra lợi nhuận, hoặc công ty có lãi nên có tiền chi cho ESG. Thứ hai là nhân quả ngược, và phân biệt hai cách đọc cần thiết kế nghiên cứu khác với việc đếm bao nhiêu nghiên cứu cho kết quả dương. Xem thêm tương quan và nhân quả.

Friede, Busch và Bassen gọi kết quả của họ là tương quan: tổng hợp 60 bài tổng quan (35 theo đếm kết quả, 25 phân tích tổng hợp) trên hơn 2.200 nghiên cứu riêng lẻ đến hết 2014 và thấy khoảng 90% không âm, với tương quan trung bình khoảng 0,15 (Friede et al., 2015). Trong bài họ dùng cả cách nói "tương quan dương" lẫn "đầu tư ESG có lợi về tài chính" (Friede et al., 2015). Theo cách tôi đọc, câu sau mạnh hơn dữ liệu cho phép, vì bài không phân tích chiều nhân quả. Đó là nhận xét của tôi, không phải kết luận của các tác giả.

Cổng G: bằng chứng có vượt khỏi tương quan tổng gộp không?

Một con số trung bình trên hàng nghìn nghiên cứu không cho biết nó đúng với công ty nào. Friede và cộng sự cho thấy kết quả khác nhau theo cách đo: trong các tổng quan đếm kết quả, nghiên cứu theo danh mục đầu tư chỉ có 15,5% thấy quan hệ dương, so với 56,7% ở nghiên cứu không theo danh mục; ở các phân tích tổng hợp, chênh lệch nhỏ hơn nhưng vẫn có ý nghĩa (Friede et al., 2015). Họ giải thích phần chênh bằng nhiễu, bộ lọc ESG pha trộn và phí khoảng 2,5% một năm (Friede et al., 2015). Họ cũng không phân tích chi phí vốn, chỉ hiệu quả tài chính công ty (Friede et al., 2015).

Vogel đứng ở đầu kia. Ông kết luận lập luận kinh doanh cho CSR "có ít cơ sở thực nghiệm" (Vogel, 2005, p. 14) và cho rằng CSR là "một thị trường ngách hơn là chiến lược chung: nó hợp lý kinh doanh với một số công ty, trong một số lĩnh vực, trong một số hoàn cảnh" (Vogel, 2005, p. 3). Ông cũng viết công ty có trách nhiệm hơn không nhất thiết có lãi hơn, nhưng cũng không kém hơn (Vogel, 2005, p. 13). Các câu của Vogel ở đây đều lấy từ chương mở đầu của sách; phân tích thực nghiệm ở chương 2 chưa được kiểm.

Điều chung của cả hai tài liệu, cách nhau mười năm: không bên nào ủng hộ một quy luật "làm tốt thì chắc chắn có lãi" cho mọi công ty. Xem thêm thị trường cho đức hạnh.

Cổng I: bao nhiêu chi phí thì còn hợp lý?

Cổng cuối là thứ hay bị bỏ quên. Vogel viết trong đa số trường hợp CSR chỉ hợp lý kinh doanh nếu chi phí của hành vi có trách nhiệm hơn còn khiêm tốn, và điều đó giới hạn nguồn lực công ty có thể dành cho CSR (Vogel, 2005, p. 4). Ông cũng cho rằng CSR chỉ bền khi "đức hạnh có lãi" (Vogel, 2005, pp. 2-3). Với một công ty nhỏ, cổng này nghĩa là: trước khi bắt đầu hãy đặt một mức trần chi và một điều kiện dừng, thay vì đo thành công bằng việc "vẫn đang làm".

Phát biểu của Fink không nêu giới hạn này: "vấp ngã và thất bại" được nêu cho các công ty phớt lờ các bên liên quan, không kèm điều kiện về chi phí (Fink, 2019). Vogel cho rằng lập luận mạnh nhất rơi vào hai nhóm: công ty đã đưa CSR vào chiến lược để thu hút khách, nhân viên và nhà đầu tư, và các công ty toàn cầu dễ thấy bị các nhà hoạt động nhắm tới; theo ông, đa số công ty không thuộc nhóm nào (Vogel, 2005, pp. 14-15).

Kiểm chứng tuyên bố “làm tốt thì có lãi”

Khi được đề xuất đầu tư vào ESG, đa dạng hay CSR với lý do “làm tốt thì có lãi”, ban điều hành cần kiểm chứng: bằng chứng cho thấy nhân quả hay chỉ là tương quan?

  1. MCó phương pháp đo tác động ESG rõ ràng không?Tuyên bố chưa kiểm chứng được.
  2. CĐã kiểm soát nhân quả ngược (lợi nhuận cao cho phép chi ESG, chứ không phải ngược lại) chưa?Chỉ là tương quan.
  3. GBằng chứng có vượt khỏi tương quan trong dữ liệu tổng gộp không?Đừng dùng làm lý do chính.
  4. IĐộng cơ quản lý có bị giới hạn ở mức còn sinh lợi không?Nếu có: không suy ra cho mọi trường hợp.
Tuyên bố có cơ sở trong phạm vi hẹp; nêu điều kiện cụ thể.
Hình 1 · Bốn cổng kiểm cho tuyên bố "làm tốt thì có lãi" (vẽ lại từ framework trong thư viện của site; nguồn gốc ghi Vogel, 2005, và Norman và MacDonald, 2004).Trang framework

Tuyên bố của Fink qua bốn cổng ra sao?

Bảng sau là cách đọc của tôi, không phải đánh giá của tác giả nào và không nói thư của Fink sai.

Cổng Câu hỏi Kết quả với phát biểu của Fink
M Có phương pháp đo rõ ràng không? Thư không nêu chỉ số; chưa kiểm chứng được
C Đã loại nhân quả ngược chưa? Thư không bàn; các tổng quan được dẫn ở trên báo cáo tương quan
G Bằng chứng có vượt tương quan tổng gộp không? Có xu hướng không âm trong tổng gộp nhưng yếu ở danh mục đầu tư; Vogel không đồng ý
I Động cơ có giới hạn ở mức còn sinh lợi không? Thư không nêu giới hạn chi phí

Đọc có điều kiện: với phát biểu dạng quy luật cho mọi công ty, thư dừng ở cổng M. Với một tuyên bố hẹp hơn, ví dụ về quản trị hay phân bổ vốn (các ưu tiên BlackRock nêu), thì bạn có thể tìm bằng chứng cụ thể cho từng cổng. Bài Khi nào lợi nhuận chính đáng nói về một câu hỏi khác: khi nào theo đuổi lợi nhuận là chính đáng.

Chủ doanh nghiệp nhỏ dùng bốn cổng thế nào?

Ví dụ giả định, mọi chi tiết do tôi bịa. Một xưởng may xuất khẩu được tư vấn đầu tư 600 triệu đồng vào xử lý nước thải và báo cáo xã hội, với lý do "khách châu Âu sẽ trả giá cao hơn". Bốn cổng biến câu đó thành bốn việc: ghi chỉ số cụ thể (giá bán, số đơn, tỷ lệ gia hạn hợp đồng) và khoảng thời gian; hỏi xem xưởng nào đã bán giá cao hơn trước khi đầu tư (nhân quả ngược); tìm bằng chứng từ xưởng cùng cỡ, cùng khách thay vì trung bình cả ngành; và đặt trần 600 triệu cùng ngày xem lại.

Cách này hợp khi khoản chi lớn so với lợi nhuận hằng năm hoặc khó rút lại. Nó không hợp nếu bạn làm vì luật bắt buộc hay vì giá trị của riêng bạn: khi đó câu hỏi không phải "có lãi không" mà là "chi bao nhiêu thì đủ". Bài Marketing bền vững không phải CSR và Bốn kiểu đầu tư trách nhiệm cho hai góc nhìn khác.

Đào sâu: các nguồn được dùng ra sao?

Fink (2019) là trang web trên site BlackRock, không có số trang. Friede, Busch và Bassen (2015) dùng bản truy cập mở, toàn văn. Vogel (2005) chỉ được dùng ở chương mở đầu (trang 1 đến 15), lấy từ bản mẫu trên trang của Brookings; vì thế câu về "ít cơ sở thực nghiệm" là lời Vogel tóm tắt ở trang 14, không phải phân tích đã được kiểm. Norman và MacDonald (2004) được dùng ở bản thảo tháng 3/2003 trên trang của tác giả, chưa đối chiếu với bản in trên Business Ethics Quarterly.

Bảng bốn cổng áp lên thư của Fink là cách đọc của bài. Ví dụ xưởng may là giả định. Bài không xét bằng chứng riêng về BlackRock hay về các quỹ ESG, và không nói đầu tư ESG nên hay không nên.

Hỏi nhanh

Nghiên cứu có chứng minh làm tốt thì có lãi không?

Chưa theo nghĩa nhân quả. Friede, Busch và Bassen (2015) tổng hợp hơn 2.200 nghiên cứu riêng lẻ và thấy khoảng 90% có kết quả không âm, tương quan trung bình khoảng 0,15, nhưng họ mô tả đây là tương quan và các nghiên cứu danh mục đầu tư cho kết quả yếu hơn nhiều trong nhóm tổng quan đếm kết quả (Friede et al., 2015). Vogel (2005) lại kết luận rằng lập luận kinh doanh cho CSR 'có ít cơ sở thực nghiệm' (Vogel, 2005, p. 14).

Nhân quả ngược là gì và vì sao quan trọng ở đây?

Là chiều ngược của giả thuyết: công ty lãi cao có tiền chi cho ESG, chứ ESG không tạo ra lãi. Trong các tài liệu được dùng ở bài này, Friede và cộng sự báo cáo tương quan và không bàn chiều nhân quả (Friede et al., 2015). Vì vậy một tương quan dương không đủ để nói chi ESG sinh lợi nhuận; xem [[term:reverse-causality|nhân quả ngược]].

Vậy có nên đầu tư vào ESG không?

Bài này không trả lời câu đó. Nó chỉ nói tuyên bố 'làm tốt thì có lãi' cần được kiểm theo bốn cổng trước khi dùng làm lý do chính. Vogel cho rằng CSR hợp lý kinh doanh với một số công ty, trong một số lĩnh vực, trong một số hoàn cảnh (Vogel, 2005, p. 3), và trong đa số trường hợp chỉ khi chi phí còn khiêm tốn (Vogel, 2005, p. 4).

Doanh nghiệp nhỏ áp dụng bốn cổng thế nào?

Viết đề xuất ra giấy và trả lời từng cổng bằng một câu: đo bằng chỉ số gì trong bao lâu, vì sao không phải lãi đến trước, bằng chứng có đến từ công ty giống mình không, và mức chi tối đa để dừng. Nếu cổng nào trống, đó là chỗ cần hỏi thêm.

Tài liệu tham khảo

Xếp A–Z theo họ tác giả, kiểu Harvard. Nguồn có DOI thì link https://doi.org/…; nguồn không có DOI thì link trang nguồn hoặc ghi rõ không có DOI.

  1. Fink, L. (2019) Larry Fink's 2019 letter to CEOs: purpose & profit.Không có DOIblackrock.comĐược trích trong 1 bài
  2. Friede, G., Busch, T. and Bassen, A. (2015) ‘ESG and financial performance: aggregated evidence from more than 2000 empirical studies’, Journal of Sustainable Finance & Investment, 5(4), pp. 210–233.doi:10.1080/20430795.2015.1118917Được trích trong 2 bài
  3. Norman, W. and MacDonald, C. (2004) ‘Getting to the bottom of "triple bottom line"’, Business Ethics Quarterly, 14(2), pp. 243–262.doi:10.5840/beq200414211Được trích trong 3 bài
  4. Vogel, D. (2005) The market for virtue: the potential and limits of corporate social responsibility. Washington, DC: Brookings Institution Press.Không có DOIbrookings.eduĐược trích trong 3 bài
Đọc tiếp

Bài liên quan

Tất cả bài viết

Bài này có ích với bạn không?

Chấm điểm bài viết từ 1 đến 5 sao

Chưa có lượt chấm nào.

Bình luận (0)

Chưa có bình luận, hãy là người đầu tiên.

Viết bình luận

Bình luận được kiểm duyệt trước khi hiện. Có thể mất vài giờ.