Netflix: dữ liệu hay trực giác? Đọc hai nghiên cứu gốc
Dành cho chủ doanh nghiệp và quản lý nghe nói Netflix chạy bằng dữ liệu, hoặc bằng trực giác. Hai nghiên cứu gốc cho thấy cách hỏi đó che mất điều chính: dữ liệu trả lời được một số câu hỏi rất hẹp, còn con người chọn câu hỏi và thước đo.
Theo một tài liệu van Es dẫn, năm 2015 Ted Sarandos, khi đó là đồng CEO kiêm giám đốc nội dung của Netflix, được cho là đã nói quyết định ở công ty gồm 70% dữ liệu và 30% phán đoán của con người. Ba năm sau, trong một phỏng vấn, tỷ lệ đảo lại: 70% trực giác, 30% dữ liệu (van Es, 2023, pp. 656–657). Nếu bạn đang cân nhắc "làm theo Netflix", câu nào đúng? Bài này đọc hai tài liệu gốc (van Es, 2023; Gomez-Uribe và Hunt, 2015); xem thêm ca Netflix về dữ liệu và phán đoán. Cách chạy vòng ra quyết định bốn bước nằm ở bài Vòng ra quyết định dựa trên dữ liệu cho doanh nghiệp nhỏ; bài này chỉ hỏi dữ liệu trả lời được câu nào.
Hai tỷ lệ 70/30 đảo ngược nói lên điều gì?
Theo van Es, cả hai đều khớp với Netflix, vì công ty giữ sự lưỡng lự về việc mình là ai; bà gọi đó là "strategic ambivalence" (van Es, 2023, p. 657). Bà phân tích blog kỹ thuật, trang Netflix Research, LinkedIn và phát biểu với báo chí (van Es, 2023, p. 657).
Đến khoảng 2017, các bài viết dựng hình ảnh công ty công nghệ chạy bằng dữ liệu (van Es, 2023, p. 661); từ 2018, Netflix nhắc nhiều hơn đến chuyên môn và sáng tạo của con người (van Es, 2023, p. 663). Năm 2020, CEO Reed Hastings chỉ ra công ty có nhiều nhân viên ở Hollywood hơn ở Silicon Valley, hai phần ba chi tiêu dành cho nội dung, và gợi ý đó không phải công ty công nghệ hay truyền thông mà là công ty giải trí (van Es, 2023, p. 660). Van Es gắn sự đổi giọng này với phản ứng chống dữ liệu và thuật toán, và với việc Netflix làm chương trình gốc (van Es, 2023, p. 656).
Hai con số 70/30 chỉ là lời thuật lại qua hai bài báo tôi chưa đọc, và van Es tự gắn chữ "supposedly" (được cho là) với một trong hai.
Hệ gợi ý của Netflix thực sự làm gì?
Nó là một tập thuật toán, mỗi cái phục vụ một việc, không phải một thuật toán (Gomez-Uribe và Hunt, 2015, pp. 1–2). Một trang chủ thường có khoảng 40 hàng, mỗi hàng tới 75 phim; năm 2015, Netflix có hơn 65 triệu thành viên xem hơn 100 triệu giờ mỗi ngày (Gomez-Uribe và Hunt, 2015, pp. 1–2).
| Thuật toán | Việc làm theo bài báo |
|---|---|
| Personalised video ranker | Xếp cả danh mục riêng cho từng hồ sơ, trộn tín hiệu cá nhân với một lượng khá lớn độ phổ biến (Gomez-Uribe và Hunt, 2015, p. 3) |
| Trending Now | Dùng xu hướng từ vài phút đến vài ngày, như lễ Tình nhân hay một cơn bão (Gomez-Uribe và Hunt, 2015, p. 4) |
| Sims | Lập danh sách phim tương tự cho mỗi phim, không cá nhân hoá (Gomez-Uribe và Hunt, 2015, p. 4) |
| Page generation | Chọn và xếp các hàng của cả trang; trước 2015 là khuôn cố định theo luật (Gomez-Uribe và Hunt, 2015, pp. 4–5) |
| Evidence và Search | Chọn hình, tóm tắt hiển thị kèm; xử lý tìm kiếm, kể cả khi phim không có trong danh mục (Gomez-Uribe và Hunt, 2015, p. 5) |
Con số "80% giờ xem đến từ gợi ý" đo cái gì?
Đo phần giờ xem mà hệ gợi ý có mặt trên đường đi của người xem, không đo phần giờ xem sẽ không xảy ra nếu thiếu nó. Câu gốc: hệ gợi ý "in total influences choice for about 80% of hours streamed at Netflix. The remaining 20% comes from search" (Gomez-Uribe và Hunt, 2015, p. 5).
Van Es dẫn số này với năm 2016, và viết "80 percent of what people watch on Netflix originate in recommendations" ở trang 656, "80 percent of consumption" ở trang 661 (van Es, 2023, pp. 656, 661).
| Bài gốc | Khi được dẫn lại | |
|---|---|---|
| Đơn vị | Giờ xem | "What people watch", "consumption" |
| Quan hệ | Ảnh hưởng đến lựa chọn | Bắt nguồn từ |
| Phần còn lại | 20% từ tìm kiếm, cũng là bài toán gợi ý | Không nhắc |
Bài gốc còn cho biết riêng trang chủ là nơi 2 trong 3 giờ xem được khám phá (Gomez-Uribe và Hunt, 2015, p. 2), và thừa nhận phần lớn mô hình thống kê của công ty không tính vòng phản hồi: video được xem nhiều thì được gợi ý cho nhiều người, rồi lại được xem nhiều hơn (Gomez-Uribe và Hunt, 2015, p. 14). Theo cách đọc của tôi, hai điều đó khiến 80% khó đọc như tác động nhân quả.
Giá trị mà chính Netflix nêu là chỗ khác: họ nói nhiều năm làm cá nhân hoá và gợi ý đã giảm tỷ lệ huỷ thuê bao "vài điểm phần trăm", và, trong câu mở đầu bằng "we think", tác động gộp tiết kiệm "hơn 1 tỷ USD mỗi năm" (Gomez-Uribe và Hunt, 2015, p. 7).
Dữ liệu thắng ở đâu, con người quyết định ở đâu?
Dữ liệu thắng ở một câu hẹp: hai danh sách phim tương tự "House of Cards", danh sách nào tốt hơn trong A/B test? Người ta tưởng danh sách có vẻ liên quan hơn (gồm cả bản gốc của phim) sẽ tốt hơn, nhưng A/B test cho thấy danh sách nghiêng về độ phổ biến mới tốt hơn (Gomez-Uribe và Hunt, 2015, p. 8). Các tác giả viết rằng trực giác của chính mình, kể cả trực giác tập thể, thường chọn sai biến thể thuật toán (Gomez-Uribe và Hunt, 2015, p. 7).
Nhưng con người vẫn quyết định ba việc:
- Thước đo. Doanh thu chỉ đến từ phí thuê bao, nên họ cho rằng tối đa hoá doanh thu gần như tương đương tối đa hoá giá trị thành viên nhận được; đó là giả định họ tự nêu (Gomez-Uribe và Hunt, 2015, p. 8). Họ đo giữ chân, nhưng vì khó dịch chuyển nó dù 0,1 điểm nên đo thêm mức xem trung hạn, và tự nhận đếm giờ xem "gives far too much credit to multiseason shows" (Gomez-Uribe và Hunt, 2015, pp. 9, 14).
- Cách hiểu kết quả. Diễn giải A/B test "remains partly art": khi một test thắng về giữ chân mà mức xem không tăng theo, họ coi là dao động ngẫu nhiên và chạy lại, và thường thấy kết quả không lặp (Gomez-Uribe và Hunt, 2015, p. 11).
- Cỡ mẫu. Đo chênh lệch giữ chân 0,1 điểm khi mức giữ chân là 50% cần khoảng 2 triệu thành viên mỗi ô (Gomez-Uribe và Hunt, 2015, p. 10). Tôi kiểm bằng công thức nhị thức chuẩn: sai số chuẩn của chênh lệch là √(2p(1−p)/n) ≈ 0,05 điểm, nên 0,1 điểm là hai sai số. Với 1.000 khách mỗi nhóm, mức giữ chân 50%, ngưỡng thành khoảng 4,4 điểm. Con số 1.000 khách là phép tính của tôi; bài gốc không có số này.
Van Es nói khung "dữ liệu hay trực giác" che mất điều gì?
Che việc cả hai cực đều được dựng bằng lời, và che phần hệ thống nằm giữa. Bà mô tả, theo một cuốn sách bà dẫn, "tư duy Moneyball" với bốn ý: dữ liệu không mang định kiến của con người, dữ liệu hơn kiến thức trực giác, hai thứ thường căng với nhau, và dùng khéo thì cho lợi thế chiến lược (van Es, 2023, p. 658). Theo bà, Netflix nuôi huyền thoại đó để tự quảng bá (van Es, 2023, p. 658).
Phát biểu về sau của Netflix khác hẳn. Một bài năm 2022 nói quyết định lớn do những "Informed Captains" đưa ra sau khi xem dữ liệu và nghe đồng nghiệp; một tài liệu năm 2018 nói học máy để hỗ trợ chứ không để tự động hoá quyết định (van Es, 2023, p. 661).
Bà không coi đó là lời giải. Trong lời Netflix, dữ liệu là "chính xác" và "khách quan", con người là "cảm xúc" và "chuyên môn" (van Es, 2023, p. 665); con người thường đứng ngoài hệ kỹ thuật, chỉ thêm "một chút chạm" (van Es, 2023, pp. 664, 668). Bà viết rằng Netflix cũng là sản phẩm của thực hành con người, và cần bàn công khai khi nào, bằng cách nào và vì sao dùng dữ liệu (van Es, 2023, p. 668).
Ví dụ từ The Wall Street Journal mà bà dẫn: thử ảnh bìa "Grace and Frankie" cho thấy ảnh không có Jane Fonda hiệu quả hơn, nhưng đội nội dung ở Hollywood lo quan hệ và hợp đồng; theo bài báo, số đo bị gạt sang bên để làm hài lòng người nổi tiếng, không phải vì ngờ thuật toán (van Es, 2023, p. 667). Theo cách đọc của tôi, đó là phán đoán về một mục tiêu khác với mục tiêu mà con số đo.
Người ra quyết định nên làm gì khác sau khi đọc hai bài?
Bốn điều sau là suy luận của tôi từ hai bài, không phải kết luận của các tác giả.
- Trước khi nói "dữ liệu cho thấy", ghi ra câu hỏi mà dữ liệu trả lời. "Danh sách tương tự nào tốt hơn theo thước đo ta chọn" có dữ liệu trả lời; "có giữ quan hệ với một diễn viên không" thì không.
- Trước khi tin một phần trăm, hỏi đơn vị, mẫu số và động từ. Số 80% đổi nghĩa khi "ảnh hưởng đến lựa chọn" thành "bắt nguồn từ".
- Chọn thước đo là quyết định của con người. Ghi lại vì sao chọn và nó sai ở đâu, như Netflix tự ghi về giờ xem.
- Doanh nghiệp nhỏ không bắt chước được A/B test cỡ Netflix: với vài nghìn khách chỉ thấy được khác biệt từ vài điểm phần trăm; chênh nhỏ hơn thì nói thẳng là phán đoán. Xem thêm 5 câu hỏi trước khi tin một biểu đồ.
Giới hạn của hai tài liệu này là gì?
Gomez-Uribe và Hunt là nhân sự Netflix viết về hệ thống của họ, số liệu năm 2015, nhiều nhận định mở đầu bằng "we think" hay "in our opinion" (Gomez-Uribe và Hunt, 2015, pp. 7, 14); tôi không có nguồn độc lập để kiểm.
Không bài nào chứng minh "Netflix làm phim bằng dữ liệu". Gomez-Uribe và Hunt chỉ dùng "House of Cards" làm ví dụ về gợi ý, một danh sách phim tương tự (Gomez-Uribe và Hunt, 2015, p. 8) và một ca ngôn ngữ phụ đề (Gomez-Uribe và Hunt, 2015, p. 14); "generated by algorithm" là lời Sarandos trong phỏng vấn, van Es thuật lại (van Es, 2023, p. 659).
Đào sâu: tôi đã đọc gì, chưa đọc gì?
Van Es (2023): tôi đọc toàn văn bản nhà xuất bản trên kho của Đại học Utrecht. Số trang là số trang in (656 đến 672). Tôi chưa đọc các nguồn bà dẫn: Wu (2015), phỏng vấn Sarandos trên Vulture (2018), blog kỹ thuật của Netflix, The Atlantic (2014), The Wall Street Journal (2018); mọi điều về chúng là điều van Es thuật lại.
Gomez-Uribe và Hunt: tôi đọc bản PDF của ACM qua bản lưu của Internet Archive. Phần chuyển văn bản cắt bớt vài đoạn, gồm một phần mục 5.6, kết luận và phụ lục B; tôi không dựa vào các đoạn đó. Số trang là số trang của bài (1 đến 19). Dòng tham khảo trong PDF ghi "December 2015", còn van Es dẫn là 2016; tôi theo thư viện, dùng 2015.
Hỏi nhanh
Netflix dùng dữ liệu gì về người xem để gợi ý?
Theo Gomez-Uribe và Hunt: mỗi thành viên xem gì, xem thế nào (thiết bị, giờ trong ngày, ngày trong tuần, cường độ), gợi ý được tìm thấy ở đâu trong sản phẩm, và cả những gợi ý đã hiển thị mà không được phát [@gomez-uribe-2016, p. 2]. Van Es ghi lại lời Netflix rằng hệ này không dựa vào dữ liệu nhân khẩu học mà dựa vào hoạt động của thuê bao, và công ty không biết chủng tộc hay giới tính của từng người dùng [@vanes-2023, pp. 662, 667]. Đó là lời công ty nói, không phải điều hai bài kiểm chứng.
Có con người trong hệ gợi ý của Netflix không?
Có, theo van Es. Bà dẫn một bài của The Atlantic năm 2014 về khoảng 77.000 "altgenre" như "Visually-striking Inspiring Documentaries", việc cần nhiều lao động con người, và một bài thuyết trình của Netflix nói chuyên gia nội bộ gắn hơn 200 điểm dữ liệu về câu chuyện [@vanes-2023, p. 664]. Tôi chưa đọc hai nguồn gốc đó, nên đây là điều van Es thuật lại.
Netflix chạy một A/B test bao lâu và so sánh gì?
Netflix chia ngẫu nhiên thành viên vào các "ô", mỗi ô một trải nghiệm, và để họ dùng sản phẩm thường từ 2 đến 6 tháng; một test hay có 5 đến 10 biến thể. Hai thước đo chính là mức xem trung hạn và tỷ lệ huỷ thuê bao [@gomez-uribe-2016, pp. 9, 12]. Họ thích thử trên thành viên mới vì chưa quen bản cũ, nhưng thành viên mới có một tháng dùng thử miễn phí nên chỉ đo chính xác được giữ chân sau một tháng kể từ khi người cuối cùng của test tham gia [@gomez-uribe-2016, p. 11].
Netflix Prize liên quan gì đến hệ gợi ý hiện tại?
Cuộc thi nhằm cải thiện dự đoán số sao một người sẽ chấm sau khi xem, thứ từng là bài toán chính thời giao đĩa DVD. Các tác giả viết rằng những thuật toán rút ra từ cuộc thi vẫn chạy để dự đoán điểm, nhưng thời của sao và đĩa đã qua [@gomez-uribe-2016, p. 2]. Van Es xếp Netflix Prize vào những việc giúp dựng hình ảnh công ty dữ liệu trong giai đoạn 2006 đến 2013 [@vanes-2023, p. 659].
Tài liệu tham khảo
Xếp A–Z theo họ tác giả, kiểu Harvard. Nguồn có DOI thì link https://doi.org/…; nguồn không có DOI thì link trang nguồn hoặc ghi rõ không có DOI.
- Gomez-Uribe, C.A. and Hunt, N. (2015) ‘The Netflix recommender system’, ACM Transactions on Management Information Systems, 6(4), pp. 1–19.doi:10.1145/2843948Được trích trong 2 bài
- van Es, K. (2023) ‘Netflix & big data: the strategic ambivalence of an entertainment company’, Television & New Media, 24(6), pp. 656–672.doi:10.1177/15274764221125745Được trích trong 1 bài

Bài này có ích với bạn không?
Chưa có lượt chấm nào.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận, hãy là người đầu tiên.