Vì sao doanh nghiệp bỏ lỡ dự án tốt: ngại rủi ro ở cấp quản lý
Dành cho chủ doanh nghiệp và giám đốc tài chính thắc mắc vì sao các quản lý hay né những dự án rủi ro có kỳ vọng lãi dương. Khảo sát 1.500 quản lý cho thấy phần lớn chỉ chịu mức mất 18% khi người trung lập với rủi ro chịu 75%. Bài giải thích cơ chế và nói rõ khi nào sự thận trọng đó hợp lý.
Một dự án cần 100 triệu đô la. Nó có cơ hội thu về 400 triệu (tính theo giá trị hiện tại) trong ba năm, và có cơ hội mất sạch vốn ngay năm đầu. Xác suất mất tối đa bao nhiêu thì bạn vẫn làm? Một người trung lập với rủi ro trả lời 75%, vì một phần tư của 400 triệu đúng bằng 100 triệu bỏ ra. Năm 2012, câu hỏi này được đưa cho 1.500 quản lý. Phần lớn chỉ chịu 18% (Lovallo et al., 2020).
Quản lý ngại rủi ro đến mức nào, theo khảo sát đó?
Theo Lovallo, Koller, Uhlaner và Kahneman (2020), Koller và Lovallo đưa kịch bản trên cho 1.500 quản lý trong một khảo sát toàn cầu của McKinsey năm 2012. Chỉ 9% chịu mức xác suất mất từ 40% trở lên. Khi giảm vốn xuống 10 triệu đô la và khoản thu còn 40 triệu, họ vẫn thận trọng như vậy, nên quy mô khoản đầu tư ít ảnh hưởng đến mức ngại (Lovallo et al., 2020).
Phép tính của tôi để thấy độ lệch: mức chịu mất 18% nghĩa là chỉ làm khi xác suất thành công từ 82% trở lên. Khi đó giá trị kỳ vọng là 0,82 nhân 400 trừ 100, bằng 228 triệu đô la, hơn gấp đôi vốn bỏ ra. Nếu lấy 18% làm ngưỡng chung, nhóm này hành xử như đòi một mức lãi kỳ vọng cỡ đó trước khi nói có, trong khi mức trung lập là lãi kỳ vọng bằng không.
Theo phần tóm tắt của bài, động cơ và quy trình kiểm soát của công ty chủ động làm quản lý ngại nhận rủi ro (Lovallo et al., 2020).
Ghét mất mát là gì?
Là việc khoản mất nặng hơn khoản được tương đương. Kahneman và Tversky (1979) viết rằng sự khó chịu khi mất một khoản tiền có vẻ lớn hơn niềm vui khi được đúng khoản đó, và hầu hết mọi người thấy cược đối xứng, được x hoặc mất x với xác suất bằng nhau, rõ ràng không hấp dẫn (Kahneman và Tversky, 1979, p. 279). Trong mô hình của họ, hàm giá trị đo thay đổi so với một điểm tham chiếu, và dốc hơn ở phía mất so với phía được (Kahneman và Tversky, 1979, p. 275, 279). Ý tưởng đằng sau khái niệm ghét mất mát trong thư viện của site lấy từ đây.
Điểm tham chiếu thường là tình trạng hiện tại. Nhưng bài cũng nói được và mất có thể tính so với một kỳ vọng hay mức phấn đấu khác tình trạng hiện tại (Kahneman và Tversky, 1979, p. 286). Với quản lý, ví dụ gần nhất là chỉ tiêu năm. Tôi suy ra: dự án làm ngân sách hụt chỉ tiêu bị tính là "mất", dù chi phí đó có đáng đầu tư hay không.
Đừng đọc ghét mất mát như ngại rủi ro ở mọi nơi. Cùng bài viết ghi nhận rằng khi chọn giữa các khoản lỗ, người ta thường ưa rủi ro: thích canh bạc có thể lỗ lớn hơn một khoản lỗ nhỏ chắc chắn (Kahneman và Tversky, 1979, p. 268). Suy luận của tôi: một quản lý đang hụt chỉ tiêu có thể tiếp tục rót vào dự án cũ đang lỗ thay vì chốt lỗ.
Vì sao công ty khuếch đại ghét mất mát?
Vì người quyết định dự án và người chịu rủi ro của dự án không cùng một góc nhìn. Theo phần tóm tắt công khai của Lovallo và cộng sự, lý thuyết nói doanh nghiệp tạo giá trị bằng đầu tư rủi ro, nhưng thực tế quản lý ở công ty lớn thường chặn ý tưởng rủi ro để chọn cải tiến nhỏ, cắt chi phí và khoản "an toàn". CEO xét từng khoản trong cả danh mục, trong khi quản lý đặt cược sự nghiệp vào từng khoản, kể cả khi kết quả không đáng kể với cả công ty (Lovallo et al., 2020).
Bài mở đầu bằng điều kiện của lập luận: các khoản đầu tư có thể rất lớn, và dù một tỷ lệ đáng kể thất bại cũng không sao, miễn là không thất bại đơn lẻ nào làm sập doanh nghiệp và các canh bạc thắng bù lại, điều thường xảy ra. Nó dựa trên lý thuyết danh mục của Markowitz từ thập niên 1950 (Lovallo et al., 2020).
Các tác giả gọi khoảng cách giữa lựa chọn CEO muốn và lựa chọn quản lý thực sự đưa lên là "thuế ngại rủi ro" (RAT, risk aversion tax). Với một công ty hoạt động tốt, họ xem toàn bộ các khoản đầu tư trong một năm và tính RAT là 32%: doanh nghiệp này có thể cải thiện kết quả gần một phần ba chỉ bằng cách quyết định theo mức chịu rủi ro của CEO thay vì của quản lý cấp dưới (Lovallo et al., 2020).
Một danh mục mười dự án nhìn khác một dự án như thế nào?
Ví dụ hoàn toàn giả định, con số do tôi đặt, nhằm nối khảo sát với thực tế SME. Mỗi dự án cần 500 triệu đồng. Nếu thành công, thu về 2 tỷ đồng, gồm cả vốn gốc (cùng tỷ lệ 4 trên 1 của khảo sát). Nếu thất bại, mất cả 500 triệu. Xác suất thành công 40%.
| Một dự án | Mười dự án độc lập | |
|---|---|---|
| Vốn bỏ ra | 500 triệu | 5 tỷ |
| Lãi ròng kỳ vọng | +300 triệu | +3 tỷ |
| Xác suất mất tiền | 60% | 17% |
Một dự án đứng riêng thất bại 60% số lần. Con số đó thấp hơn ngưỡng 75% của người trung lập, nên người trung lập sẽ làm, còn người chỉ chịu 18% sẽ từ chối. Với mười dự án, công ty lỗ chung khi không quá hai dự án thành công, xác suất khoảng 17% (tôi tự tính theo phân phối nhị thức), tức 83% là có lãi. Quản lý đề xuất một dự án thấy 60% khả năng mình mang tên thất bại. Chủ doanh nghiệp nhìn mười dự án thấy 83% khả năng cả danh mục có lãi. Khoảng cách giữa hai cách nhìn này là chỗ thuế ngại rủi ro phát sinh.
Hai giả định gây tranh cãi. Mười dự án phải độc lập, trong khi nhiều dự án cùng chịu một cú sốc thị trường thì xác suất lỗ chung cao hơn nhiều. Và công ty phải đủ lớn để chịu một chuỗi dự án thất bại.
Có thể làm gì, và khi nào ngại rủi ro là hợp lý?
Bài đề nghị đo trước: theo đoạn trích tôi đọc, doanh nghiệp có thể ước lượng thuế bằng cách khảo sát mức chịu rủi ro của CEO và của quản lý ở nhiều cấp (Lovallo et al., 2020). Các tác giả viết rằng công ty cần chuyển từ quy trình xoay quanh việc quản lý kết quả sang quy trình khuyến khích tính toán hợp lý các xác suất (Lovallo et al., 2020). Với doanh nghiệp bạn, hãy thử: chọn một dự án mẫu, hỏi từng quản lý mức xác suất mất vốn tối đa họ còn chịu, rồi so với 1 trừ vốn chia khoản thu. Ngưỡng ở doanh nghiệp bạn do bạn đặt. Để chọn dự án trước đó, xem NPV hay IRR. Để ghi lại bạn đã ước tính thế nào, xem nhật ký quyết định.
Ngại rủi ro hợp lý khi một thất bại đơn lẻ đủ làm sập doanh nghiệp. Lập luận của Lovallo và cộng sự chỉ đứng được khi điều kiện đó không xảy ra (Lovallo et al., 2020). Chủ một xưởng nhỏ thường không có mười dự án; khoản 500 triệu đồng có thể bằng lợi nhuận cả năm. Suy luận của tôi: với doanh nghiệp nhỏ, câu hỏi nên là một dự án thua thì công ty còn lại gì, không phải quản lý có đang ngại rủi ro hay không.
Đào sâu: tôi đã đọc gì và còn thiếu gì?
Bài Kahneman và Tversky (1979) tôi đọc toàn văn từ bản lưu của một trường đại học; số trang theo tạp chí. Các thí nghiệm dựa trên câu hỏi giả định cho sinh viên và giảng viên đại học (Kahneman và Tversky, 1979, p. 264). Chính các tác giả ghi nhận việc dựa vào lựa chọn giả định đặt ra câu hỏi về độ giá trị và tính khái quát (Kahneman và Tversky, 1979, p. 265).
Bài của Lovallo và cộng sự (2020) nằm sau tường trả phí. Tôi đọc phần tóm tắt, đoạn mở đầu và các đoạn trích dài của bài được một blog kinh tế đăng lại; chưa đọc toàn bài, nên không biết các đề xuất đầy đủ. Tôi cũng không biết cơ cấu người trả lời khảo sát, hay 18% là trung bình hay trung vị. Hai con số lớn, 18% và 32%, đều là của chính các tác giả: khảo sát là câu hỏi giả định, và RAT là ví dụ về một công ty. Phép tính RAT lại giả định mức rủi ro đúng là của CEO. Đó là giả định, không phải kết quả đo.
Hỏi nhanh
Ghét mất mát có giống ngại rủi ro không?
Không hẳn. Ngại rủi ro là thích khoản chắc chắn hơn một canh bạc cùng giá trị kỳ vọng. Ghét mất mát là khoản mất nặng hơn khoản được tương đương, nên cùng một thay đổi được cảm nhận khác nhau tuỳ nó là được hay mất. Kahneman và Tversky (1979) còn ghi nhận người ta có thể ưa rủi ro khi chọn giữa các khoản lỗ, ví dụ thích canh bạc có thể lỗ lớn hơn một khoản lỗ nhỏ chắc chắn [@kahneman-1979, p. 268].
Thuế ngại rủi ro (RAT) tính thế nào?
Lovallo và cộng sự (2020) giả định mức rủi ro đúng của công ty là của CEO, rồi lấy chênh lệch giá trị giữa các lựa chọn CEO sẽ chọn và các lựa chọn quản lý thật sự đưa lên. Theo đoạn trích tôi đọc, doanh nghiệp có thể ước lượng bằng khảo sát mức chịu rủi ro của CEO và quản lý ở nhiều cấp [@lovallo-2020]. Phép tính phụ thuộc vào giả định đầu tiên.
Doanh nghiệp nhỏ có nên làm theo không?
Chỉ phần nào. Lập luận của Lovallo và cộng sự chạy tốt khi không thất bại đơn lẻ nào làm sập doanh nghiệp [@lovallo-2020]. Chủ một doanh nghiệp nhỏ thường không có mười dự án để chia rủi ro, nên một phần sự thận trọng là hợp lý. Đây là suy luận của tôi, không phải kết luận của nguồn.
Dùng câu hỏi khảo sát này ở doanh nghiệp của tôi thế nào?
Chọn một dự án mẫu với vốn bỏ ra và khoản thu nếu thành công, hỏi từng quản lý xác suất mất vốn cao nhất họ còn chịu để làm. So với mức trung lập, bằng 1 trừ vốn chia khoản thu. Cách này mượn từ khảo sát được kể trong bài của Lovallo và cộng sự; ngưỡng ở doanh nghiệp bạn do bạn tự đặt [@lovallo-2020].
Tài liệu tham khảo
Xếp A–Z theo họ tác giả, kiểu Harvard. Nguồn có DOI thì link https://doi.org/…; nguồn không có DOI thì link trang nguồn hoặc ghi rõ không có DOI.
- Kahneman, D. and Tversky, A. (1979) ‘Prospect theory: an analysis of decision under risk’, Econometrica, 47(2), pp. 263–291.doi:10.2307/1914185Được trích trong 1 bài
- Lovallo, D. et al. (2020) ‘Your company is too risk-averse’, Harvard Business Review, 98(2), pp. 104–111.Không có DOIhbr.orgĐược trích trong 1 bài

Bài này có ích với bạn không?
Chưa có lượt chấm nào.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận, hãy là người đầu tiên.