Tám bẫy ra quyết định và cách ghi nhật ký quyết định
Dành cho chủ doanh nghiệp và quản lý sắp chốt một quyết định lớn mà ngờ mình đang nghĩ lệch. Tám bẫy của Hammond và cộng sự có tên gọi rõ ràng, nhưng biết tên chưa đủ. Bài đề xuất một trang nhật ký bảy dòng để bẫy lộ ra trước khi tiền ra đi.
Sáu tháng sau khi mở chi nhánh thứ hai, doanh thu chỉ bằng nửa kế hoạch. Chủ cửa hàng mở lại hồ sơ duyệt và thấy con số doanh thu tháng nằm ở dòng đầu từ buổi họp đầu tiên, không ai nhớ nó từ đâu ra. Cửa hàng nội thất này là giả định, nhưng câu hỏi có thật: làm sao biết mình đang vướng bẫy nào ngay lúc quyết định, không phải sau khi mất tiền?
Tám bẫy của Hammond, Keeney và Raiffa là gì?
Đoạn mở đầu của Hammond, Keeney và Raiffa (1998) nêu rằng quyết định tệ thường truy được về cách ra quyết định, nhưng đôi khi lỗi nằm ở đầu người quyết định: cách bộ não hoạt động làm hỏng lựa chọn của ta (Hammond et al., 1998). Bảng dưới diễn đạt lại mô tả của họ, cột cuối là câu hỏi tôi đặt ra để một trang nhật ký nhắm vào từng bẫy.
| Bẫy | Hammond và cộng sự mô tả | Câu hỏi trên trang nhật ký (của tôi) |
|---|---|---|
| Neo | Cho trọng lượng quá mức cho thông tin đầu tiên nhận được | Con số đầu tiên trên bàn là của ai, ghi lúc nào? Ước tính của tôi viết trước hay sau khi thấy nó? |
| Hiện trạng | Nghiêng về giữ nguyên tình hình, kể cả khi có phương án tốt hơn | "Không làm gì" có được viết như một phương án thật, kèm cái giá của nó không? |
| Chi phí chìm | Dễ lặp lại sai lầm của quá khứ | Khoản đã chi nào đang nằm trong lý do? Nếu hôm nay chưa chi đồng nào, tôi có chọn như vậy không? |
| Bằng chứng xác nhận | Tìm thông tin ủng hộ ý sẵn có, xem nhẹ thông tin ngược | Tôi đã hỏi ai để họ phản đối? Điều gì sẽ làm tôi đổi ý? |
| Khung | Đặt sai vấn đề làm hỏng cả quá trình | Câu hỏi này viết cách khác thì thành gì? |
| Tự tin quá mức | Đánh giá quá cao độ chính xác của dự báo | Ba ước tính thấp, giữa, cao cho con số quyết định là gì? |
| Thận trọng quá mức | Quá dè dặt khi ước tính sự kiện bất định | Mức "cao" tôi viết có thật sự đủ cao, hay đã bị cắt sẵn để an toàn? |
| Dễ nhớ | Cho trọng lượng quá mức cho sự kiện gần đây, gây ấn tượng mạnh | Vụ việc nào vừa xảy ra đang làm tôi nghĩ vậy? Tỷ lệ cơ sở của loại việc này là bao nhiêu? |
Thư viện gom ba bẫy ước tính (tự tin quá mức, thận trọng quá mức, dễ nhớ) thành một nút, nên sơ đồ dưới có sáu nút thay vì tám. Bài chỉ có phần tóm tắt công khai của bài gốc (Hammond et al., 1998).
Các bẫy tâm lý khi ra quyết định
Khi chuẩn bị chốt một quyết định quan trọng, nhà quản lý cần nhận ra những bẫy tâm lý nào, như neo số liệu, chi phí chìm hay tìm bằng chứng xác nhận, để tránh bị chúng dẫn dắt?
Biết tên bẫy đã đủ để tránh chưa?
Chưa chắc. Phần tóm tắt của Hammond và cộng sự nói cách tốt nhất để tránh mọi bẫy là nhận biết, vì được báo trước là được trang bị (Hammond et al., 1998). Chương của Soll, Milkman và Payne (2015) phức tạp hơn.
Người ta có điểm mù với thiên lệch của chính mình, dù thường thấy đúng thiên lệch đó ở người khác. Chương nói chưa biết nghiên cứu nào hỏi thẳng điều này, nhưng lời khuyên "cẩn thận khi mệt hay thất thường" có lẽ vô hại và lợi ích có thể nhỏ (Soll et al., 2015, p. 930). Nguyên tắc thống kê học trong phòng thí nghiệm có xu hướng mờ dần sau vài tuần khi sang lĩnh vực mới; huấn luyện hiệu quả nhất theo đúng loại quyết định sắp làm và có thể lặp lại (Soll et al., 2015, p. 931).
Còn hiệu chỉnh cần phản hồi. Nhà khí tượng học dự báo khá chuẩn trong nghề của họ, với điều kiện được huấn luyện, nhận phản hồi kịp thời và có động cơ phù hợp; sang chủ đề khác thì họ kém như mọi người (Soll et al., 2015, p. 931). Ben-David, Graham và Harvey (2013), qua lời kể của chương, yêu cầu các giám đốc tài chính dự báo lợi suất hằng năm của S&P 500 trong chín năm. Khoảng "chắc 80%" của họ chỉ chứa kết quả thật 33% số lần (Soll et al., 2015, p. 933).
Chủ doanh nghiệp hiếm khi nhận phản hồi kịp thời. Mở chi nhánh hay đổi nhà cung cấp xảy ra vài lần trong nhiều năm, và khi có kết quả thì ký ức về lý do ban đầu đã đổi. Một trang ghi sẵn lý do và dự đoán là cách rẻ nhất để có thứ so sánh. Đó là lý do tôi đề xuất nhật ký.
Gỡ thiên lệch đi theo ba hướng nào?
Phần tóm tắt công khai của bài "Outsmart your own biases" xếp kỹ thuật theo ba hướng mở rộng tầm nhìn: về kết cục tương lai, về mục tiêu và về phương án (Soll et al., 2015). Thư viện dùng cách xếp đó trong Gỡ thiên lệch trên ba mặt trận.
Gỡ thiên lệch trên ba mặt trận
Trước khi chốt một quyết định quan trọng, nhà quản lý cần mở rộng góc nhìn về tương lai, mục tiêu và phương án ra sao để tránh thiên lệch?
| Tiêu chí | Mặt trận | Điều hay xảy ra | Kỹ thuật |
|---|---|---|---|
| Tương lai | Chỉ nghĩ một kịch bản | Một dự báo đơn lẻ hoặc khoảng quá hẹp | Ba ước tính thấp-giữa-cao; nghĩ hai lần rồi lấy trung bình; phân tích tiền kiểm; góc nhìn bên ngoài |
| Mục tiêu | Chỉ giữ một vài mục tiêu | Bỏ sót mục tiêu quan trọng | Tự liệt kê trước rồi hỏi người khác; xét từng mục tiêu một rồi mới ghép |
| Phương án | Chỉ có một lựa chọn trên bàn | Đặt câu hỏi có/không, lập lựa chọn giả | Tạo 3–5 phương án thật; so sánh song song thay vì từng cái một |
Với hướng tương lai, chương nêu hai kỹ thuật. Một là hỏi riêng các mức 10%, 50% và 90% thay vì một khoảng, nhờ đó tỷ lệ trúng tăng khoảng 20 điểm phần trăm vì khoảng rộng hơn và đặt gần đáp án hơn (Soll et al., 2015, p. 933). Hai là "nhìn lại từ tương lai" (prospective hindsight; thư viện gọi là phân tích tiền kiểm): giả sử dự án đã thất bại rồi giải thích vì sao. Chương nhận xét người ta nghĩ ra nhiều đường dẫn đến thất bại hơn khi nhìn lại một thất bại, dù chỉ tưởng tượng, và nói rõ cần thêm nghiên cứu (Soll et al., 2015, p. 932).
Nhật ký quyết định bảy dòng gồm những gì?
Một trang, điền ở hai thời điểm. Mẫu dưới là đề xuất của tôi, ghép từ các kỹ thuật ở trên, chưa qua thử nghiệm nào.
NHẬT KÝ QUYẾT ĐỊNH (dòng 1 đến 6 điền trước khi quyết)
1. Quyết định là gì, ai quyết, hạn chót ngày nào?
2. Câu hỏi viết hai cách (ví dụ "có nên mở?" và "dùng số vốn này ra sao tốt nhất?").
3. Ít nhất ba phương án, trong đó có "giữ nguyên" kèm cái giá của nó. Gạch mọi khoản đã chi khỏi lý do.
4. Con số quyết định: ước tính thấp, giữa, cao (mức 10%, 50%, 90%), và tỷ lệ cơ sở của loại việc này. Viết trước khi xem số của người khác.
5. Giả sử sau 12 tháng việc này thất bại: ba nguyên nhân có thể.
6. Một thứ sẽ làm tôi đổi ý, và một người tôi nhờ phản biện.
7. Ngày xem lại. Kết quả thật, chênh lệch so với ước tính, bài học (điền sau).
Mỗi dòng nhắm vào một vài bẫy ở bảng trên: dòng 2 nhắm khung, dòng 3 hiện trạng và chi phí chìm, dòng 4 neo, tự tin quá mức, thận trọng quá mức và dễ nhớ, dòng 6 bằng chứng xác nhận. Dòng 5, nhìn lại từ một thất bại tưởng tượng, nhắm vào sự lạc quan quá mức. Với quyết định ít lặp lại, Soll và cộng sự viết rằng xác định mục tiêu, tạo nhiều phương án và tìm bằng chứng ngược có thể mang lại lợi ích lớn (Soll et al., 2015, p. 943).
Ví dụ giả định: cửa hàng nội thất mở chi nhánh hai
Mọi số liệu dưới đây do tôi đặt ra để minh hoạ. Cửa hàng không có thật.
Chủ cửa hàng định thuê mặt bằng thứ hai, tiền cọc và sửa chữa 2 tỷ đồng. Trong buổi họp đầu, người quản lý nói chi nhánh cũ bán 150 triệu đồng một tháng nên chi nhánh mới "không dưới 150". Đó là cái neo. Chủ điền nhật ký:
| Dòng | Nội dung giả định |
|---|---|
| 3 | A: chi nhánh hai. B: giữ nguyên, tăng kho và giao hàng. C: bán qua sàn thương mại điện tử. D: gửi tiết kiệm. Cái giá của B: mất khách ở khu vực mới |
| 4 | Doanh thu tháng thứ sáu của chi nhánh hai: thấp (mức 10%) 60, giữa 100, cao (mức 90%) 170 triệu đồng, viết trước khi xem số 150 |
| 5 | Mặt bằng khuất tầm nhìn; thợ sửa trễ; khách khu mới quen mua qua mạng |
| 6 | Đổi ý nếu hai tháng bán thử qua giao hàng tại khu vực đó chưa đạt 40 triệu đồng mỗi tháng. Người phản biện: kế toán trưởng |
Số giữa 100 triệu thấp hơn cái neo 150 triệu khá nhiều. Nhật ký không cấm chi nhánh hai, nó buộc người ta ngồi lại với con số 100 trước khi ký cọc.
Giá trị lớn hơn nằm ở nhiều lần ghi. Giả sử sau mười ước tính, chỉ 5 kết quả thật nằm trong khoảng từ mức thấp đến mức cao, trong khi khoảng 10% đến 90% lẽ ra chứa khoảng 8. Nếu ước tính hiệu chỉnh đúng và các khoảng độc lập với nhau, kết quả từ 5 trở xuống chỉ xảy ra khoảng 3% số lần (tôi tự tính theo phân phối nhị thức). Khoảng của bạn nhiều khả năng quá hẹp.
Khi nào nhật ký hợp, khi nào không?
Hợp nếu quyết định lớn, khó đảo ngược và bạn ít gặp lại loại việc đó: mở chi nhánh, vay mở rộng, đổi nhà cung cấp chính. Không hợp nếu bạn quyết định loại việc đó hằng tuần; khi đó bảng kiểm hay chính sách nhất quán thường tốt hơn (Soll et al., 2015, p. 943).
Ba giới hạn. Không nguồn nào trong bài đo hiệu quả của cuốn nhật ký; bài ghép từ các kỹ thuật có bằng chứng riêng lẻ. Nhật ký chỉ có giá trị khi điền trước lúc biết kết quả. Mười ước tính là mẫu nhỏ, nên một lần trượt khoảng chưa nói gì.
Để xem lại sau quyết định, xem phản tư Gibbs; để thay một con số bằng vài kịch bản, xem lập kịch bản.
Đào sâu: bài dựa trên những gì, chưa dựa trên gì?
Bài của Hammond, Keeney và Raiffa (1998) nằm sau tường trả phí. Bài dùng phần tóm tắt công khai và đoạn mở đầu; tên và mô tả một dòng của tám bẫy lấy từ đó, còn các ví dụ và biện pháp trong thân bài chưa được dùng (Hammond et al., 1998). Với bài "Outsmart your own biases" (2015) cũng chỉ dùng tóm tắt, và chỉ cho cách xếp ba hướng (Soll et al., 2015).
Chương "A user's guide to debiasing" được dùng từ trang 924 đến 944, trong bản thảo chưa hiệu đính do một tác giả đăng; số trang theo bản đó, phần cuối chương chưa dùng. Các nghiên cứu nhỏ trong chương chỉ được biết qua lời kể của chương (Soll et al., 2015).
Về phê bình: phần tóm tắt công khai không nêu số đo hay nghiên cứu kiểm chứng cho tám bẫy. Cách đặt hai nguồn đối lập nhau là của tôi, không phải của chương. Vì vậy hãy coi mẫu nhật ký là thí nghiệm nhỏ trong doanh nghiệp bạn: ghi mười con số ước tính, đếm số lần khoảng của bạn trúng, rồi chỉnh.
Hỏi nhanh
Nhật ký quyết định khác gì phản tư Gibbs?
Phản tư Gibbs là cách xem lại một việc đã xảy ra, từ mô tả đến kế hoạch cho lần sau. Nhật ký quyết định ghi hai lần, một lần trước khi biết kết quả và một lần sau, để có thứ so sánh. Hai cách đi cùng nhau được, và bài về Gibbs của site nói kỹ phần xem lại.
Nên ghi nhật ký cho bao nhiêu quyết định?
Chỉ những quyết định lớn, khó đảo ngược và ít lặp lại. Chương của Soll, Milkman và Payne (2015) viết rằng với quyết định lặp đi lặp lại, mô hình tuyến tính, bảng kiểm và chính sách nhất quán có thể cải thiện đáng kể độ chính xác [@soll-2015b, p. 943]. Quyết định hằng ngày nên dùng bảng kiểm, không cần nhật ký.
Có phải mọi con số đều cần ba mức thấp, giữa, cao?
Không. Chỉ làm với một đến hai con số mà quyết định xoay quanh, thường là doanh thu hoặc chi phí. Kỹ thuật này đến từ nghiên cứu về khoảng ước tính, không phải từ quy tắc áp cho mọi dòng trong bảng tính [@soll-2015b, p. 933].
Ghi nhật ký có làm quyết định chậm đi không?
Có, và tôi cho đó là một phần lý do nó hữu ích. Chương của Soll, Milkman và Payne mô tả các điểm ngắt cài vào môi trường lựa chọn, như chia khẩu phần ăn hay chia lương vào nhiều phong bì, khiến quyết định chậm hơn và được xử lý sâu hơn [@soll-2015b, p. 937]. Việc nhật ký đóng vai trò điểm ngắt như vậy là suy luận của tôi. Mức 20 đến 30 phút mỗi quyết định cũng là ước tính của tôi, chưa ai đo.
Tài liệu tham khảo
Xếp A–Z theo họ tác giả, kiểu Harvard. Nguồn có DOI thì link https://doi.org/…; nguồn không có DOI thì link trang nguồn hoặc ghi rõ không có DOI.
- Hammond, J.S., Keeney, R.L. and Raiffa, H. (1998) ‘The hidden traps in decision making’, Harvard Business Review, 76(5).Không có DOIhbr.orgĐược trích trong 2 bài
- Soll, J.B., Milkman, K.L. and Payne, J.W. (2015) ‘Outsmart your own biases’, Harvard Business Review, 93(5), pp. 64–71.Không có DOIhbr.orgĐược trích trong 1 bài
- Soll, J.B., Milkman, K.L. and Payne, J.W. (2015) ‘A user's guide to debiasing’, in The Wiley Blackwell handbook of judgment and decision making (eds G. Keren and G. Wu). Chichester: Wiley, pp. 924–951.doi:10.1002/9781118468333.ch33Được trích trong 1 bài

Bài này có ích với bạn không?
Chưa có lượt chấm nào.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận, hãy là người đầu tiên.