Phản tư Gibbs cho nhà quản lý: xem lại một quyết định qua sáu bước
Dành cho quản lý muốn rút kinh nghiệm sau một quyết định không như ý mà không dừng ở câu "lần sau chú ý hơn". Bài đi qua sáu bước của Gibbs bằng một ví dụ giả định, so với rà soát sau hành động và nêu giới hạn của cả hai.
Một đơn hàng giao trễ ba ngày. Cuộc họp rút kinh nghiệm kéo dài hai mươi phút và kết thúc bằng hai việc cần làm: kiểm lịch máy kỹ hơn, báo khách sớm hơn. Hai tuần sau, một đơn khác lại trễ. Tình huống này là giả định, nhưng kiểu cuộc họp đó là thứ chu trình phản tư Gibbs nhắm tới: theo bản tóm tắt trong thư viện của site, Gibbs nhận xét rằng buổi rút kinh nghiệm hay nhảy từ mô tả sơ sài sang kết luận vội về việc làm tiếp (Gibbs, 1988). Bài này đi qua sáu bước trên một quyết định quản lý, rồi nói rõ giới hạn.
Sáu bước của Gibbs hỏi những gì, theo thứ tự nào?
Sáu câu hỏi, đi lần lượt: chuyện gì đã xảy ra, bạn phản ứng và cảm thấy thế nào, điều gì tốt và chưa tốt, bạn hiểu tình huống ra sao, rút ra được gì, và lần sau bạn làm khác đi thế nào Chu trình phản tư Gibbs. Khung này nằm trong Learning by doing (Gibbs, Further Education Unit, 1988) (Gibbs, 1988).
Chu trình phản tư Gibbs
Sau một cuộc họp hay dự án không như ý, người đi làm hoặc học viên MBA nên xem lại trải nghiệm đó theo trình tự nào để rút ra bài học và có kế hoạch cho lần sau?
- Mô tảChuyện gì đã xảy ra? Chỉ mô tả, chưa đánh giá hay kết luận.
- Cảm xúcBạn phản ứng và cảm thấy thế nào? Chưa vội phân tích.
- Đánh giáĐiều gì tốt, điều gì chưa tốt? Đưa ra nhận định giá trị.
- Phân tíchBạn hiểu tình huống ra sao? Mượn ý tưởng từ ngoài trải nghiệm để giải thích.
- Kết luậnRút ra được gì nói chung, và gì riêng cho tình huống hay cách làm của bạn?
- Kế hoạch hành độngLần sau bạn làm khác đi thế nào, và sẽ thực hiện những bước nào?
Thứ tự là phần khung này bắt bạn tuân thủ: bước 1 chỉ mô tả, bước 2 ghi cảm xúc mà chưa phân tích, đến bước 3 mới được nhận định đúng sai. Theo bản tóm tắt, Gibbs đưa các bước này như cấu trúc cho buổi rút kinh nghiệm, làm một mình hoặc theo nhóm. Nếu đủ thời gian, đi từng bước và đổi cách làm ở mỗi bước (một mình, theo cặp, theo nhóm bốn, cả nhóm) để đánh dấu việc chuyển bước (Gibbs, 1988).
Một quyết định cụ thể đi qua sáu bước trông thế nào?
Chọn một quyết định, không chọn một kết quả, rồi điền sáu ô theo thứ tự. Bảng dưới là bản điền giả định theo đúng sáu câu hỏi ở hình trên: chị Lan, xưởng in bao bì cỡ vừa và các con số đều do tôi bịa, không đại diện cho doanh nghiệp thật nào.
Hammond, Keeney và Raiffa (1998) viết rằng quyết định tồi thường truy ngược về cách ra quyết định, như chưa thu thập đúng thông tin hay chưa cân nhắc chính xác chi phí và lợi ích (Hammond et al., 1998). Vì vậy ô Mô tả ghi cả điều chị làm, không chỉ điều xảy ra. Tình huống: ngày 2, bộ phận bán hàng hỏi chị Lan, trưởng vận hành, có nhận kịp đơn gấp 40.000 hộp giao ngày 12 không.
| Bước | Bản ghi của chị Lan (giả định) |
|---|---|
| 1. Mô tả | Ngày 2 tôi xác nhận ngày giao 12 sau khi chỉ xem lịch máy in. Máy cán màng nghỉ bảo trì hai ngày và còn một đơn xếp trước. Hàng giao ngày 15, tôi báo khách ngày 11 |
| 2. Cảm xúc | Ngại vì khách là đối tác lớn. Bực bộ phận bán hàng vì hối ngày. Nhẹ người khi hàng đi |
| 3. Đánh giá | Tốt: báo khách trước một ngày, giao đủ số lượng. Chưa tốt: chốt ngày khi chưa có lịch của mọi công đoạn |
| 4. Phân tích | Ngày khách đòi thành mốc cho mọi tính toán sau đó (neo). Tôi chỉ tìm lịch cho thấy "kịp" (bằng chứng xác nhận). Quy trình cho phép chốt ngày bằng một cuộc gọi |
| 5. Kết luận | Chung: ngày hẹn chỉ đáng tin khi mọi công đoạn đã có lịch. Riêng: tôi hay nói "được" trước với khách lớn |
| 6. Kế hoạch | Với đơn gấp, điều phối viên kiểm lịch cả hai máy rồi tôi mới trả lời, trong nửa ngày làm việc. Sau 30 ngày tôi đếm bao nhiêu đơn gấp giao đúng hẹn |
Ô 4 mượn hai ý của Hammond và cộng sự: bẫy neo khiến ta cho trọng lượng quá lớn vào thông tin nhận được đầu tiên, bẫy bằng chứng xác nhận khiến ta tìm thông tin ủng hộ ý sẵn có và xem nhẹ thông tin ngược lại (Hammond et al., 1998). Phần tóm tắt các bẫy này nằm trong framework về bẫy tâm lý khi ra quyết định. Gán nhãn như vậy mới là giả thuyết; nhật ký máy sẽ cho biết đúng hay không. Ô 6 là ô duy nhất có mốc kiểm, biến kết luận thành việc đo được sau 30 ngày.
Hai lỗi hay gặp là gì, và nhận ra bằng dấu hiệu nào?
Theo Gibbs, lỗi đầu là nhảy từ mô tả sơ sài sang kết luận vội về việc làm tiếp, bỏ qua suy ngẫm và phân tích. Lỗi thứ hai xảy ra sau một trải nghiệm mạnh: nhóm mắc kẹt ở mô tả hoặc cảm xúc, rồi quay lại chúng đúng lúc đáng ra phải bàn kế hoạch hành động (Gibbs, 1988).
Lỗi đầu chính là cuộc họp mở bài. Ô Mô tả chỉ có "đơn trễ ba ngày", kế hoạch viết ngay "kiểm lịch máy kỹ hơn, báo khách sớm hơn". Hai việc này đúng với bất kỳ đơn trễ nào, và không việc nào nhắm vào chuyện chốt ngày qua điện thoại. Cách tôi kiểm: nếu thay sang một đơn trễ khác mà kế hoạch vẫn đọc xuôi, ô Phân tích đã bị bỏ qua.
Lỗi thứ hai dễ thấy nếu khách doạ huỷ hợp đồng: cuộc họp mất cả buổi cho chuyện ai đã nói gì trong cuộc gọi, rồi ai bực ai, và quay lại đúng những chuyện đó khi có người đề nghị bàn kế hoạch. Bản tóm tắt chỉ nói đổi hình thức làm việc ở mỗi bước để đánh dấu việc chuyển bước. Dùng nó để thoát lỗi này, theo cách sau, là gợi ý của tôi, không phải của Gibbs: mỗi người viết mô tả riêng, nói cảm xúc theo cặp, đánh giá theo nhóm bốn, rồi cả nhóm làm ba bước còn lại.
Phản tư Gibbs khác gì rà soát sau hành động?
Rà soát sau hành động (after-action review, AAR) là cuộc thảo luận có cấu trúc ngay sau một sự kiện, hỏi điều gì đã xảy ra, vì sao và nên làm gì khác, theo thuật ngữ của site. So với định nghĩa đó, Gibbs thêm một bước cảm xúc riêng và bắt tách điều rút ra nói chung khỏi điều riêng cho người phản tư.
Khác biệt lớn nhất nằm ở bằng chứng. Keiser và Arthur (2021) tổng hợp 61 nghiên cứu (107 mức ảnh hưởng, 915 nhóm và 3.499 cá nhân) và thấy AAR cải thiện nhiều tiêu chí đánh giá đào tạo, với d = 0,79 (Keiser và Arthur, 2021). Hai đặc điểm đóng góp ổn định: buổi rà soát hướng tới cá nhân hay nhóm, và phương tiện xem lại hiệu suất có khách quan hay không. Cấu trúc chặt hiệu quả hơn cấu trúc lỏng trong quân đội, nhưng trong y tế hai kiểu tương đương (Keiser và Arthur, 2021).
Theo cách tôi đọc, thứ được đo là AAR chứ không phải chu trình Gibbs, nên chưa có cơ sở nói bước nào của Gibbs đóng góp bao nhiêu. Phát hiện về phương tiện khách quan gợi ý một chỉnh sửa cho ô Mô tả, vốn chỉ yêu cầu mô tả: đem nhật ký máy, lịch xếp đơn và email xác nhận vào đó, thay vì để chị Lan viết theo trí nhớ. Đây là suy luận của tôi, không phải khuyến nghị của Keiser và Arthur.
Phản tư có thể tự biện hộ không?
Có. Sáu câu hỏi không kiểm câu trả lời, nên người viết vẫn có thể điền những ô nghe hợp lý nhất. Bản tóm tắt framework không nêu số liệu cho thấy làm đủ sáu bước thì quyết định sau tốt hơn.
Hai bẫy trong danh sách của Hammond và cộng sự dễ chạm vào ô Đánh giá và Phân tích. Bẫy bằng chứng xác nhận khiến người đã nghi bộ phận bán hàng ép ngày chỉ tìm ra lý do chứng minh điều đó. Bẫy dễ nhớ khiến ta cho trọng lượng quá lớn vào sự việc gần và gây ấn tượng mạnh (Hammond et al., 1998). Một đơn trễ có thể khiến chị Lan viết quy tắc cho mọi đơn gấp, dù mười đơn trước đó giao đúng hẹn. Cách gắn bẫy vào ô và hai ví dụ này là suy luận của tôi.
Gợi ý của tôi để giảm rủi ro: đưa dữ liệu vào ô Mô tả, nhờ một người không dự cuộc gọi đọc bản ghi, đặt mốc kiểm ở ô 6. Khung bốn cơ chế kiểm soát của site nêu thêm một dấu hiệu: rà soát chỉ để tìm người chịu lỗi là rà soát thất bại. Đó là khung tổng hợp, chưa phải kết quả đã kiểm chứng. Vì vậy ô 3 trong ví dụ đánh giá cách chốt ngày, không đánh giá bộ phận bán hàng.
Phương pháp này hợp nếu bạn xem lại một quyết định của chính mình hoặc của nhóm nhỏ, mô tả được bằng sự kiện cụ thể, và có người đọc lại bản ghi sau 30 ngày. Nó không hợp nếu bạn cần tìm nguyên nhân thật của sự cố nhiều biến số, vì khi đó phải có dữ liệu và điều tra, hoặc nếu nhóm sợ bị quy lỗi. Tôi đoán nhóm như vậy sẽ viết phần cảm xúc cho an toàn thay vì cho thật; điều kiện này gọi là an toàn tâm lý.
Đào sâu: đã đọc gì, chưa đọc được gì?
Chu trình Gibbs: tôi không đọc được cuốn Learning by doing. Open Library ghi bản năm 1988 dài 129 trang, và Internet Archive có bản chỉ cho mượn mà tôi không mở được. Sáu bước, cách dùng và hai lỗi hay gặp lấy từ bản tóm tắt framework trong thư viện của site, nên tôi không có số trang.
Keiser và Arthur (2021): tôi đọc phần tóm tắt do nhà xuất bản đăng trên Ovid, chưa đọc bài gốc. Tôi không biết các nghiên cứu được chọn thế nào hay bao nhiêu nằm trong môi trường doanh nghiệp. Tóm tắt nhắc tới quân đội và y tế, nên áp sang quyết định quản lý là suy diễn của tôi.
Hammond, Keeney và Raiffa (1998): tôi đọc phần tóm tắt và đoạn mở đầu trên trang Harvard Business Review, không đọc toàn bài, nên chưa đọc phần họ đề xuất cách phòng tránh.
Bài này không chứng minh rằng phản tư sáu bước giúp ra quyết định tốt hơn; nó chỉ trình bày một cấu trúc và một ví dụ giả định.
Hỏi nhanh
Có cần người ngoài điều phối buổi phản tư không?
Phần tóm tắt của Keiser và Arthur (2021) cho thấy cách điều phối tác động cùng với việc buổi rà soát hướng tới cá nhân hay nhóm và loại phương tiện xem lại hiệu suất. Tổ hợp hiệu quả nhất là tự điều phối kèm rà soát hướng tới nhóm, và tự điều phối kèm phương tiện khách quan [@keiser-2021]. Kết quả này đo trên rà soát sau hành động, không phải trên chu trình Gibbs, nên chỉ nên coi là gợi ý.
Chu trình Gibbs khác học vòng kép thế nào?
Framework học vòng kép hỏi: khi cùng một lỗi lặp lại sau nhiều lần sửa, đội chỉ nên sửa hành động hay xét lại giả định đã sinh ra lỗi [[fw:double-loop-learning]]. Theo cách tôi đọc, bước Kế hoạch hành động của Gibbs dễ dừng ở việc sửa hành động, còn bước Phân tích và Kết luận là chỗ để hỏi về giả định. Bản tóm tắt Gibbs tôi đọc không nói vậy, nên đây là suy luận của tôi.
Ngoài neo và bằng chứng xác nhận, bẫy tâm lý nào dễ lọt vào buổi phản tư?
Hammond, Keeney và Raiffa (1998) nêu tám bẫy: neo, hiện trạng, chi phí chìm, bằng chứng xác nhận, khung, quá tự tin, quá thận trọng và dễ nhớ [@hammond-1998]. Cách ghép là của tôi: bẫy khung, tức đặt sai vấn đề, đe doạ ngay bước Mô tả, còn bẫy chi phí chìm, tức khuynh hướng lặp lại sai lầm cũ, đe doạ bước Kế hoạch hành động [@hammond-1998].
Tài liệu tham khảo
Xếp A–Z theo họ tác giả, kiểu Harvard. Nguồn có DOI thì link https://doi.org/…; nguồn không có DOI thì link trang nguồn hoặc ghi rõ không có DOI.
- Gibbs, G. (1988) Learning by doing: a guide to teaching and learning methods. London: Further Education Unit.Không có DOIopenlibrary.orgĐược trích trong 1 bài
- Hammond, J.S., Keeney, R.L. and Raiffa, H. (1998) ‘The hidden traps in decision making’, Harvard Business Review, 76(5).Không có DOIhbr.orgĐược trích trong 2 bài
- Keiser, N.L. and Arthur, W. (2021) ‘A meta-analysis of the effectiveness of the after-action review (or debrief) and factors that influence its effectiveness’, Journal of Applied Psychology, 106(7), pp. 1007–1032.doi:10.1037/apl0000821Được trích trong 1 bài

Bài này có ích với bạn không?
Chưa có lượt chấm nào.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận, hãy là người đầu tiên.