Đại diện hay quản gia: vì sao công ty cần một giám đốc tài chính
Dành cho chủ doanh nghiệp sắp thuê người lo tài chính đầu tiên mà chưa rõ họ để làm gì. Hai lý thuyết nhìn người quản lý khác nhau, nên cùng một vị trí có thể là người giám sát hoặc người đồng hành; bài chỉ cách chọn theo việc bạn cần.

Bạn sở hữu một xưởng đồ gỗ 35 người. Giám đốc sản xuất mua gỗ, trưởng bán hàng đặt giá, và bạn không còn tự xem hết. Cuối quý bạn cân nhắc trả lương cho một người lo tài chính. Người đó để làm gì: soi số của hai người kia, hay giúp họ quyết định tốt hơn? Hai lý thuyết trong bảng đại diện và quản gia cho hai câu trả lời, và bảng cơ cấu chức năng tài chính cho biết một phòng tài chính gồm những việc nào.
Lý thuyết đại diện và lý thuyết quản gia khác nhau ở đâu?
Khác ở cách nhìn người được giao quyền. Jensen và Meckling (1976) định nghĩa quan hệ đại diện là hợp đồng trong đó một hay nhiều người (chủ) thuê người khác (người đại diện) làm một việc thay mình, kèm việc giao một phần quyền quyết định. Nếu cả hai bên đều tối đa hoá lợi ích riêng, họ viết, có lý do để tin người đại diện không phải lúc nào cũng hành động vì lợi ích của chủ (Jensen và Meckling, 1976, p. 308).
Donaldson và Davis (1991) đặt lý thuyết quản gia ở phía đối diện. Theo phần tóm tắt, lý thuyết đại diện cho rằng lợi ích cổ đông cần được bảo vệ bằng cách tách vai chủ tịch hội đồng và CEO; lý thuyết quản gia cho rằng lợi ích đó cao nhất khi một người giữ cả hai vai. Phép thử của họ không ủng hộ lý thuyết đại diện và ủng hộ phần nào lý thuyết quản gia (Donaldson và Davis, 1991).
Lý thuyết đại diện và lý thuyết quản gia
Khi thuê giám đốc điều hành, chủ doanh nghiệp hay hội đồng quản trị nên siết giám sát và gắn thưởng với kết quả, hay trao quyền và tin tưởng như một người quản gia?
| Tiêu chí | Đại diện | Quản gia |
|---|---|---|
| Cách nhìn nhà quản lý | Vị lợi cá nhân | Có động lực nội tại |
| Công cụ chính | Giám sát, khuyến khích, nợ | Tin cậy và trao quyền |
| Chi phí | Giám sát, cam kết, mất mát còn lại | Rủi ro đặt niềm tin sai chỗ |
Chi phí đại diện gồm những khoản nào, và ai trả?
Ba khoản. Một là chi phí giám sát do chủ bỏ ra. Hai là chi phí cam kết do người quản lý bỏ ra để bảo đảm họ sẽ không làm điều hại chủ, hoặc sẽ đền nếu làm. Ba là phần mất mát còn lại: phần phúc lợi của chủ giảm đi vì quyết định của người quản lý vẫn lệch khỏi điều chủ muốn (Jensen và Meckling, 1976, p. 308). Giám sát, theo họ, rộng hơn việc quan sát: nó gồm cả hạn mức ngân sách, chính sách lương thưởng và quy tắc vận hành (Jensen và Meckling, 1976, p. 308). Bài cũng kể kiểm toán, hệ thống kiểm soát chính thức và hệ thống thưởng gắn lợi ích người quản lý với lợi ích chủ (Jensen và Meckling, 1976, p. 323).
Với cam kết, ví dụ của bài là cam kết trong hợp đồng để báo cáo tài chính được một kế toán viên công (public accountant) kiểm toán, bảo lãnh chống sai phạm và các giới hạn hợp đồng lên quyền quyết định của người quản lý (Jensen và Meckling, 1976, p. 325). Họ viết thêm: nếu người quản lý tự làm báo cáo tài chính rẻ hơn bên ngoài, vì đã thu sẵn dữ liệu cho việc quyết định nội bộ của mình, thì anh ta có lợi khi đồng ý trước làm báo cáo và nhờ kiểm toán viên độc lập xác nhận độ chính xác (Jensen và Meckling, 1976, pp. 338-339).
Người trả là người lập ra quan hệ. Jensen và Meckling cho rằng chi phí do người ra quyết định đã lập quan hệ gánh hoàn toàn, nên người đó có động cơ giữ chúng thấp nhất, vì được hưởng phần giảm (Jensen và Meckling, 1976, p. 328). Trong mô hình của họ đó là chủ gốc bán cổ phần ra ngoài; coi đó là chủ thuê quản lý trong SME là suy rộng của tôi.
Phòng tài chính đứng ở đâu trong bức tranh này?
Theo cách tôi đọc, chức năng tài chính là chỗ làm ra phần lớn các thứ trên: hạn mức ngân sách, báo cáo cho chủ và bên ngoài, đối chiếu và kiểm tra. Đó là việc giám sát và cam kết rẻ hơn khi có người chuyên trách. Nhưng Jensen và Meckling là một bài về cấu trúc sở hữu; họ không nói công ty cần giám đốc tài chính. Bảng cơ cấu chức năng tài chính của thư viện ghi nguồn gốc là cách chia thủ quỹ và kế toán trưởng trong giáo trình của Brigham và Ehrhardt (2013) và vai trò đối tác chiến lược của giám đốc tài chính trong nghiên cứu của Naranjo-Gil, Maas và Hartmann (2009). Tóm tắt nghiên cứu sau xem vai trò của giám đốc tài chính trong đổi mới hệ thống kế toán quản trị, ở khu vực y tế công Tây Ban Nha; các tác giả giả thuyết rằng khác biệt cá nhân giữa các giám đốc tài chính dự báo việc tổ chức dùng hệ thống mới, và nói kết quả phần lớn ủng hộ giả thuyết (Naranjo-Gil et al., 2009).
Cơ cấu chức năng tài chính
Khi doanh nghiệp lớn lên và phòng kế toán không còn đủ sức gánh, chủ doanh nghiệp nên tách việc của thủ quỹ, kiểm soát viên và CFO ra sao?
Hai cột bên phải của bảng dưới là cách đọc của tôi, không phải kết luận của các nguồn.
| Khối của chức năng tài chính | Đọc theo lý thuyết đại diện | Đọc theo lý thuyết quản gia |
|---|---|---|
| Thủ quỹ (tiền, vốn, rủi ro) | Quyết ai được chi tiền và hạn mức | Giúp người quản lý có vốn kịp lúc |
| Kế toán trưởng (kế toán, báo cáo, thuế) | Làm báo cáo để chủ và bên ngoài kiểm được | Cho người quản lý số thật để chạy việc |
| Kế hoạch và phân tích | Đặt ngân sách làm hạn mức | Cùng người quản lý thử phương án |
| Rủi ro và tuân thủ | Tìm chỗ người quản lý có thể lách | Chỉ ra rủi ro người quản lý chưa thấy |
| Kiểm toán nội bộ | Kiểm tra độc lập | Phản hồi cho người quản lý tự sửa |
Không dòng nào buộc phải chọn một bên. Câu hỏi là tỷ trọng, và tỷ trọng theo bạn tin người quản lý của mình đến đâu.
Công ty Y nên giao việc gì cho người làm tài chính đầu tiên?
Ví dụ này hoàn toàn giả định: "Công ty Y" và mọi con số do tôi dựng để minh hoạ phép cộng ba khoản. Công ty Y là xưởng đồ gỗ 35 người. Năm qua giám đốc sản xuất nhập gỗ sớm hơn nhu cầu, kho phình, chủ ước tính thiệt 120 triệu đồng: đó là phần mất mát còn lại. Chủ dành một buổi sáng mỗi tuần xem đơn mua, khoảng 200 giờ một năm; tính 400.000 đồng một giờ thì là 80 triệu: chi phí giám sát. Giám đốc sản xuất đồng ý kiểm kê kho cuối tháng có người ngoài chứng kiến, tốn 15 triệu một năm: chi phí cam kết. Tổng chi phí đại diện hiện tại là 120 + 80 + 15 = 215 triệu đồng.
Chủ cân hai phương án. Mọi tỷ lệ dưới đây là giả định của tôi.
| Phương án | Giả định | Phần mất mát | Giám sát | Cam kết | Tổng |
|---|---|---|---|---|---|
| Giữ nguyên | Chủ tự xem đơn mua | 120 | 80 | 15 | 215 |
| A: giám đốc tài chính toàn thời gian, 18 triệu/tháng | Chủ thôi xem đơn; thiệt giảm một nửa | 60 | 216 | 15 | 291 |
| B: kế toán trưởng thuê ngoài, 7 triệu/tháng | Chủ còn xem 50 giờ, tức 20 triệu; thiệt giảm một phần ba | 80 | 20 + 84 = 104 | 15 | 199 |
Đơn vị: triệu đồng mỗi năm. Dòng B: 80 + 104 + 15 = 199.
Chỉ tính theo kiểu đại diện, phương án A đắt hơn hiện trạng 76 triệu, và chỉ đáng nếu người đó làm thêm việc của khối kế hoạch và phân tích, như đặt giá hay lập kế hoạch tiền mặt, đủ bù khoản chênh. Phương án B rẻ hơn 16 triệu theo giả định, nhưng giả định "thiệt giảm một phần ba" là số tôi bịa, nên chênh lệch nhỏ như vậy chưa đủ để chọn. Bài học của ví dụ không nằm ở kết quả mà ở cách đặt câu hỏi: bạn đang trả tiền để giảm khoản nào trong ba khoản, và người đó có làm được việc còn lại không?
Cách này hợp nếu chủ vẫn còn tự xem được phần lớn quyết định chi tiền. Nó không hợp nếu giám đốc sản xuất đã làm việc nhiều năm với kết quả tốt và việc xem lại của chủ chỉ tốn thời gian của cả hai: khi đó lý thuyết quản gia gợi ý một người đồng hành về kế hoạch và phân tích có thể đáng hơn một người soát. Gợi ý này là của tôi; các nguồn tôi đọc không có số liệu cho trường hợp SME.
Đào sâu: tôi đã đọc gì, và chưa kiểm được gì?
Tôi đọc toàn văn Jensen và Meckling (1976) qua một bản PDF do một trường đại học đăng, là bản quét chuyển chữ tự động; số trang là số trang tạp chí in ngay trong bản đó. Với Donaldson và Davis (1991) tôi chỉ đọc phần tóm tắt; tôi không biết mẫu, cách đo lợi suất cổ đông hay hiệu ứng mạnh đến đâu. Với Naranjo-Gil, Maas và Hartmann (2009) tôi cũng chỉ đọc tóm tắt. Tôi chưa đọc giáo trình của Brigham và Ehrhardt, cũng chưa đọc Berle và Means (1932) hay Shleifer và Vishny (1997), hai nguồn gốc khác của bảng đại diện và quản gia, nên không trích.
Có bốn giới hạn. Một, bài của Jensen và Meckling phân tích công ty có cổ đông bên ngoài và nợ; định nghĩa quan hệ đại diện của họ đủ rộng để gồm cả người quản lý làm thuê trong một SME, nhưng phần phân tích về cổ đông bên ngoài không áp thẳng vào SME một chủ. Hai, phép thử của Donaldson và Davis bàn về việc một người giữ cả hai vai chủ tịch và CEO, không bàn về giám đốc tài chính. Ba, bảng đọc hai lý thuyết theo năm khối và ví dụ Công ty Y là suy luận và giả định của tôi, chưa kiểm trên doanh nghiệp thật. Bốn, không nguồn nào tôi đọc cho biết một công ty nhỏ cần giám đốc tài chính từ quy mô nào.
Hỏi nhanh
Chi phí đại diện gồm những khoản nào?
Jensen và Meckling định nghĩa là tổng của ba khoản: chi phí giám sát do chủ bỏ ra, chi phí cam kết do người quản lý bỏ ra, và phần mất mát còn lại, tức phần phúc lợi của chủ giảm đi vì quyết định của người quản lý vẫn lệch khỏi điều chủ muốn (Jensen và Meckling, 1976, p. 308). Họ viết rằng các chi phí này là hệ quả không tránh được của quan hệ đại diện (Jensen và Meckling, 1976, p. 328).
Lý thuyết quản gia đã bác bỏ lý thuyết đại diện chưa?
Chưa. Phần tóm tắt của Donaldson và Davis nói phép thử của họ, về việc một người vừa là chủ tịch hội đồng vừa là CEO, không ủng hộ lý thuyết đại diện và ủng hộ phần nào lý thuyết quản gia (Donaldson và Davis, 1991). Đó là một phép thử trên một tình huống. Tôi chỉ đọc phần tóm tắt, nên không biết mẫu và phép đo.
Giám sát chặt có làm người quản lý mất động lực không?
Các nguồn tôi đọc không đo điều này. Jensen và Meckling xét trường hợp cả hai bên đều tối đa hoá lợi ích riêng (Jensen và Meckling, 1976, p. 308); bảng của thư viện ghi lý thuyết quản gia coi người quản lý có thể có động lực nội tại. Muốn biết ở công ty bạn, hãy thử giảm một khâu duyệt ở một bộ phận một quý rồi xem số liệu.
Công ty nhỏ cần giám đốc tài chính từ quy mô nào?
Không nguồn nào tôi đọc nêu ngưỡng quy mô. Theo suy luận của tôi, câu hỏi nên đặt khi chủ đã giao quyền chi tiền cho người khác và tự xem không còn kịp, vì lúc đó chi phí giám sát bắt đầu xuất hiện (Jensen và Meckling, 1976, p. 308). So giá của người làm tài chính với phần chi phí đó, như bảng giả định trong bài.
Tài liệu tham khảo
Xếp A–Z theo họ tác giả, kiểu Harvard. Nguồn có DOI thì link https://doi.org/…; nguồn không có DOI thì link trang nguồn hoặc ghi rõ không có DOI.
- Donaldson, L. and Davis, J.H. (1991) ‘Stewardship theory or agency theory: CEO governance and shareholder returns’, Australian Journal of Management, 16(1), pp. 49–64.doi:10.1177/031289629101600103Được trích trong 1 bài
- Jensen, M.C. and Meckling, W.H. (1976) ‘Theory of the firm: managerial behavior, agency costs and ownership structure’, Journal of Financial Economics, 3(4), pp. 305–360.doi:10.1016/0304-405x(76)90026-xĐược trích trong 1 bài
- Naranjo-Gil, D., Maas, V.S. and Hartmann, F.G.H. (2009) ‘How CFOs determine management accounting innovation: an examination of direct and indirect effects’, European Accounting Review, 18(4), pp. 667–695.doi:10.1080/09638180802627795Được trích trong 1 bài

Bài này có ích với bạn không?
Chưa có lượt chấm nào.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận, hãy là người đầu tiên.