Change champion: ba vai trò và cách chọn người ở công ty nhỏ
Dành cho chủ doanh nghiệp hoặc trưởng bộ phận sắp triển khai một thay đổi và đang chọn ai đứng ra dẫn. Warrick (2009) mô tả ba vai trò: khởi xướng, điều phối, triển khai. Mỗi người thường giỏi một vai khác nhau, nên đáng cân nhắc chọn người theo vai, không chỉ theo chức.
Công ty T giả định chạy một đội xe giao hàng với 25 nhân viên và sắp đổi sang phần mềm lập tuyến. Chủ công ty hỏi: ai nên đứng ra dẫn? Bài của Warrick (2009) cho một gợi ý, và tôi dùng nó để đặt câu hỏi chọn người theo vai trò thay vì theo chức; cách đặt vấn đề là của tôi. Bài này cũng đặt các vai trò cạnh ba giai đoạn của một thay đổi. Công ty T và mọi chi tiết của nó là giả định.
Change champion là ai, và khác change agent ở đâu?
Warrick định nghĩa change champion là người ở bất kỳ cấp nào của tổ chức, có kỹ năng khởi xướng, điều phối và triển khai thay đổi. Ông phân biệt với change agent, là chuyên gia được đào tạo về phát triển và thay đổi tổ chức (Warrick, 2009). Theo ông, tổ chức lớn hay nhỏ đều cần có hoặc tiếp cận được một vài change agent, nhất là khi thay đổi lớn hoặc phức tạp, và change agent cũng có thể giúp đào tạo champion. Đề xuất của ông là đào tạo champion ở mọi cấp, việc này chỉ cần ít thời gian rời khỏi công việc thường ngày (Warrick, 2009). Ông viết thêm rằng champion luôn tồn tại và thường chịu trách nhiệm cho phần lớn thay đổi thành công, vì thay đổi hiếm khi xảy ra mà không có ai đứng ra dẫn; đây là lập luận của ông, dẫn từ ba nguồn mà tôi chưa kiểm (Warrick, 2009).
Vai trò của change champion
Khi công ty sắp triển khai một thay đổi lớn, CEO hay trưởng bộ phận nên đào tạo những ai ở mọi cấp làm change champion, và họ cần kỹ năng gì để khởi xướng, điều phối và triển khai?
- Ba vai trò
- Khởi xướngTư duy thay đổi, lãnh đạo bằng tầm nhìn, nắm rõ vấn đề và cách làm cho được việc, lôi các bên liên quan chính vào và tạo cam kết.
- Điều phốiLàm việc với con người, làm việc với nhóm, kết nối và đưa đúng người vào cùng một bàn.
- Triển khaiLập kế hoạch và quản lý tiến trình, làm cho việc diễn ra, giữ mọi người tập trung và có động lực, lập cơ chế phản hồi để theo dõi, bền bỉ đến khi thay đổi thành công.
Ba vai trò gồm những kỹ năng nào?
Warrick rút ba vai trò từ các nghiên cứu về người dẫn thay đổi và hơn 30 năm quan sát của ông (Warrick, 2009). Cột phải là ví dụ của tôi cho Công ty T.
| Vai trò | Kỹ năng theo Warrick | Ở Công ty T |
|---|---|---|
| Khởi xướng | Tư duy thay đổi; lãnh đạo bằng tầm nhìn; nắm rõ vấn đề, cơ hội và cách làm cho được việc; lôi các bên liên quan chính vào và tạo cam kết | Người nói rõ vì sao tuyến cũ tốn xăng, thuyết phục điều phối viên và tài xế lâu năm |
| Điều phối | Làm việc với con người và với nhóm; kết nối, đưa đúng người vào cùng một bàn | Người tổ chức buổi thử, hoà giải khi tài xế và điều phối viên cãi nhau về tuyến |
| Triển khai | Lập kế hoạch và quản lý tiến trình; làm cho việc diễn ra; giữ mọi người tập trung và có động lực; lập cơ chế phản hồi; bền bỉ đến khi thành công | Người theo dõi mỗi tuần: bao nhiêu tuyến đã chạy theo phần mềm, ai gặp lỗi |
Warrick nhấn mạnh rằng các champion học với tốc độ khác nhau và mạnh ở những vai khác nhau: người này giỏi khởi xướng, người kia giỏi điều phối, người khác giỏi triển khai. Biết điều đó giúp ghép người với dự án tốt hơn (Warrick, 2009).
Ai nên dẫn từng giai đoạn?
Câu hỏi này không có đáp án trực tiếp trong bài của Warrick, và đây là chỗ tôi phải nói rõ. Ông cho các mô hình ba giai đoạn, bắt đầu từ Lewin, là rõ ràng nhất, và khuyên chọn hoặc tự điều chỉnh một mô hình để mọi champion cùng hiểu một cách lập kế hoạch (Warrick, 2009). Mẫu lập kế hoạch thay đổi của ông có ba giai đoạn: chuẩn bị thay đổi, triển khai thay đổi, duy trì thay đổi. Mẫu cũng có một dòng hỏi ai là người phù hợp nhất để dẫn thay đổi đó, tức là câu hỏi "ai" được đặt cho từng thay đổi, không cho từng giai đoạn (Warrick, 2009).
Dưới đây là cách ghép thử của tôi. Warrick không nói vậy, và tôi chưa có bằng chứng ghép như thế cho kết quả tốt hơn.
| Giai đoạn theo mẫu của Warrick | Vai trò tôi đoán nên mạnh nhất | Dấu hiệu cần đổi người |
|---|---|---|
| Chuẩn bị | Khởi xướng: cần tầm nhìn và lôi người vào | Người khởi xướng nói nhiều nhưng chưa ai ký cam kết |
| Triển khai | Triển khai, có điều phối đi cùng | Người triển khai làm một mình, không ai kết nối các nhóm |
| Duy trì | Triển khai, với một người khởi xướng nhắc lý do | Phản hồi hằng tuần dừng lại sau tháng thứ hai |
Cách ghép này chỉ hợp khi bạn có đủ ba người. Theo nhận xét của tôi, công ty 25 người thường chỉ có hai hoặc ba người đủ uy tín và đủ giờ. Khi chỉ có hai, hãy hỏi mỗi người họ mạnh vai nào và vai nào còn trống, rồi tìm người thứ ba chỉ cho vai trống đó. Đừng bắt một người gánh cả ba vai suốt sáu tháng.
Chín nguyên tắc của Warrick: giữ cái nào cho công ty nhỏ?
Warrick đưa ra chín hướng dẫn cho chương trình champion (Warrick, 2009). Bảng dưới chọn năm cái tôi thấy ảnh hưởng nhất đến công ty nhỏ; cột phải là suy luận của tôi.
| Hướng dẫn của Warrick | Ở Công ty T |
|---|---|
| Gọi tên chương trình cho hợp văn hoá; có thể làm không chính thức, chỉ ghi lại ai đã được đào tạo | Không cần chữ "champion" trên danh thiếp; đủ là "ba người phụ trách đổi sang phần mềm" |
| Bắt đầu với nhóm nhỏ, chọn người có tác động cao, lý tưởng là có một lãnh đạo cấp cao | Chủ công ty là một trong ba, không đứng ngoài |
| Đào tạo theo kiểu hành động: vai trò cụ thể, thực hành với một champion khác hoặc huấn luyện viên | Ba người chạy thử một tuyến cùng nhau trước khi áp dụng |
| Đánh giá cao và thưởng cho vai trò: nếu không ghi nhận, rất khó giữ người làm | Ghi 2 giờ mỗi tuần vào lịch làm việc; đưa vào đánh giá cuối năm |
| Giữ chương trình linh hoạt, không gắn tiếng xấu cho người rút lui | Cho phép đổi người sau tháng đầu mà không mất mặt |
Hướng dẫn về thưởng đáng chú ý nhất. Warrick viết rằng rủi ro của việc làm champion là tổ chức tiếp tục chỉ thưởng cho công việc thường ngày, mà người đó vẫn phải làm; nếu vai trò thêm này không được ghi nhận, rất khó thuyết phục ai tiếp tục (Warrick, 2009). Theo tôi, ở công ty 25 người việc này đơn giản hơn nhiều so với công ty lớn: chủ công ty có thể tự rút giờ khỏi công việc khác.
Về đào tạo, Warrick mô tả cách làm theo kiểu hành động: theo kinh nghiệm của ông, hai ngày đào tạo chính thức, bài tập thực hành với một champion khác hoặc huấn luyện viên, và nửa ngày phản hồi để chia sẻ điều đã học (Warrick, 2009). Với Công ty T, gợi ý của tôi cho bản rẻ nhất là hai nửa ngày với một người huấn luyện bên ngoài, rồi chạy thật một tuyến làm bài tập thực hành, và một buổi rà soát ngắn sau tháng đầu. Đó là kinh nghiệm của một tác giả, không có kết quả đo, nên coi thời lượng là điểm xuất phát, không phải chuẩn. Bài tập thực hành giúp ba người hiểu thế mạnh của nhau trên một việc nhỏ trước khi cả đội xe phụ thuộc vào họ.
Champion và liên minh dẫn dắt của Kotter khác nhau thế nào?
Hai khái niệm trả lời hai câu hỏi khác nhau. Liên minh dẫn dắt trong Kotter là một nhóm có đủ quyền lực và uy tín để dẫn thay đổi. Champion trong Warrick là người có kỹ năng khởi xướng, điều phối, triển khai, ở bất kỳ cấp nào. Cách tôi tách hai khái niệm: một công ty nhỏ có thể dùng cả hai, liên minh lo ai quyết định, champion lo ai khởi xướng, điều phối và làm. Bài Kotter ở công ty 20 người đi qua câu hỏi thứ nhất.
Đào sâu: bằng chứng ở đâu, và tôi chưa đọc gì?
Bài của Warrick là bài thực hành đăng ở OD Practitioner, dựa trên kinh nghiệm hơn 30 năm của tác giả và các nghiên cứu về người dẫn thay đổi mà ông nêu. Tôi không thấy trong bài số liệu đo kết quả của chương trình champion, nên tiêu đề "đầu tư có lợi nhuận cao" là khẳng định của tác giả, không phải kết quả đo. Phần giới thiệu tác giả ghi ông là giáo sư quản trị và thay đổi tổ chức, đồng thời chủ tịch một công ty đào tạo và phát triển, chuyên huấn luyện lãnh đạo và champion; tôi suy ra ông có lợi ích gắn với đề xuất. Điều đó không làm đề xuất sai, nhưng là lý do để thử nhỏ trước. Bài mở bằng con số 70% thay đổi thất bại, dẫn bốn nguồn mà tôi chưa kiểm, nên tôi không dùng.
Tôi đọc toàn văn qua một bản sao PDF của bài đăng trên một trang web khác; trích xuất trang cuối chỉ có phần giới thiệu tác giả đọc được, và tôi chỉ dùng phần đó. Mục "ghép vai với ba giai đoạn" và mọi chi tiết về Công ty T là của tôi.
Hỏi nhanh
Change champion khác change agent ở đâu?
Warrick (2009) định nghĩa change champion là người ở bất kỳ cấp nào có kỹ năng khởi xướng, điều phối và triển khai thay đổi, còn change agent là chuyên gia được đào tạo về phát triển và thay đổi tổ chức (Warrick, 2009). Ông cho rằng tổ chức lớn hay nhỏ đều cần có hoặc tiếp cận được change agent, nhất là cho thay đổi lớn hay phức tạp; champion không thay thế họ.
Nên bắt đầu với bao nhiêu champion?
Warrick khuyên bắt đầu với nhóm nhỏ, chọn người có tác động cao, chứng minh giá trị rồi mới mở rộng; nhóm đầu nên có người hợp vai tự nhiên, như nhân sự hoặc người đã có tiếng dẫn thay đổi, và ít nhất một lãnh đạo cấp cao để cam kết thể hiện rõ (Warrick, 2009). Ông không đưa con số cụ thể.
Đào tạo champion mất bao lâu?
Theo kinh nghiệm của Warrick, hai ngày đào tạo chính thức, vài bài tập thực hành với một champion khác hoặc huấn luyện viên và nửa ngày phản hồi sau đó; ông nói thêm rằng có thể rút gọn, cho quản lý học các điều cơ bản trong một ngày (Warrick, 2009). Đó là kinh nghiệm của một tác giả, bài không có số liệu về kết quả.
Có bằng chứng champion làm thay đổi thành công hơn không?
Trong bài của Warrick, không có số liệu đo điều đó. Ông lập luận dựa trên kinh nghiệm hơn 30 năm và các nghiên cứu về người dẫn thay đổi, và mở bài bằng con số 70% thay đổi thất bại mà tôi chưa kiểm nên không dùng (Warrick, 2009). Hãy coi bài là gợi ý thực hành, không phải kết quả đo.
Tài liệu tham khảo
Xếp A–Z theo họ tác giả, kiểu Harvard. Nguồn có DOI thì link https://doi.org/…; nguồn không có DOI thì link trang nguồn hoặc ghi rõ không có DOI.
- Warrick, D.D. (2009) ‘Developing organization change champions: a high payoff investment!’, OD Practitioner, 41(1), pp. 14–19.Không có DOIĐược trích trong 1 bài

Bài này có ích với bạn không?
Chưa có lượt chấm nào.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận, hãy là người đầu tiên.