Rút khỏi thị trường: Target Canada và Uber cho thấy gì về chi phí cố định
Dành cho chủ doanh nghiệp hoặc CFO đang cân nhắc đóng một chi nhánh, một thành phố hay một nước. Hồ sơ của Target cho thấy một thị trường không gánh nổi chi phí cố định; hồ sơ của Uber cho thấy một lối ra vẫn giữ lại cổ phần. Bài tách phần rút lui tốn kém khỏi phần giá trị không mất đi.
Ngày 15/1/2015, Target thông báo kế hoạch ngừng bán hàng ở Canada, nơi hãng có 133 cửa hàng và khoảng 17.600 người làm việc. Tổng giám đốc nói ban lãnh đạo không tìm được kịch bản thực tế nào đưa Target Canada đến lợi nhuận trước ít nhất năm 2021 (Target Corporation, 2015). Năm tài chính 2012, mảng Canada vẫn chưa có đồng doanh thu nào (Target Corporation, 2015). Bài này dùng hồ sơ của Target và bản cáo bạch năm 2019 của Uber về việc rời Đông Nam Á để hỏi: làm sao nhận ra thị trường không gánh nổi chi phí cố định, bao nhiêu phần chi phí rút lui đã chi từ trước, và rời đi thì giữ lại được gì.
Làm sao biết một thị trường không gánh nổi chi phí cố định?
Đặt biên lợi nhuận mà doanh thu tạo ra cạnh các khoản chi không giảm khi doanh thu giảm. Nếu biên của cả thị trường không phủ nổi các khoản đó ở bất kỳ quy mô nào bạn có thể chạm tới, dồn thêm sức vào thị trường ấy cũng không chữa được. Mảng Canada của Target cho phép làm phép tính này.
| Triệu USD | 2013 | 2014 |
|---|---|---|
| Doanh thu | 1.317 | 1.902 |
| Giá vốn hàng bán | 1.121 | 1.541 |
| Lợi nhuận gộp (tôi trừ ra) | 196 | 361 |
| Biên lợi nhuận gộp (tôi tính) | 14,9% | 19,0% |
| Chi phí bán hàng và quản lý (SG&A) | 910 | 909 |
| Khấu hao | 227 | 248 |
| Lãi vay | 77 | 73 |
| Lỗ hoạt động trước thuế | (1.018) | (869) |
Nguồn: Target, Form 10-K năm tài chính 2014, Note 6 (Target Corporation, 2015).
Doanh thu tăng 44% năm 2014 và khoản lỗ thu hẹp 149 triệu USD, nhưng mảng này vẫn lỗ khoảng 46 xu trên mỗi đô la bán ra. Coi SG&A, khấu hao và lãi vay là cố định. Cách coi này thô: lương cửa hàng đổi theo giờ mở cửa, còn lãi vay là lựa chọn tài trợ. Với biên gộp 19,0% của năm 2014, 1.230 triệu USD đó cần doanh thu khoảng 6,5 tỷ USD, gấp 3,4 lần mức các cửa hàng bán được. Đây là phép tính của tôi, không phải của Target; chuỗi lớn hơn còn có biên tốt hơn nhờ quy mô mua hàng, nên hãy đọc con số 3,4 như độ rộng của khoảng cách, không phải điểm hoà vốn. Bản 10-K không đưa dự báo nào: mốc 2021 là lời của ban lãnh đạo trong thông cáo báo chí, người ngoài không kiểm được.
Rút lui tốn bao nhiêu, và bao nhiêu trong đó đã chi từ trước?
Phần lớn chi phí rút của Target là ghi giảm số tiền đã chi từ trước. Trong 5.105 triệu USD chi phí rút trước thuế, 4.766 triệu USD, tức 93%, là khoản giảm giá trị ghi nhận khi Target ngừng hợp nhất các công ty con ở Canada (Target Corporation, 2015).
| Thành phần của 5.105 triệu USD | Triệu USD | Là gì |
|---|---|---|
| Giảm giá trị khoản đầu tư khi ngừng hợp nhất | 4.766 | Khoản đầu tư hạ về giá trị hợp lý, gần bằng 0 |
| Nợ tiềm tàng | 240 | Khiếu nại có thể xảy ra, chủ yếu từ bảo lãnh thuê |
| Quỹ tín thác nhân viên | 73 | Chi cho nhân viên Canada ngoài khối tài sản |
| Chi phí rút khác | 26 | Không chia nhỏ |
Việc rút không tạo ra khoản lỗ đó. Nó buộc Target ghi sổ: theo 10-K, nợ của các công ty con ước tính vượt giá trị tài sản dành cho chủ nợ, nên khoản đầu tư chỉ còn giá trị hợp lý gần 0 (Target Corporation, 2015). Kế toán quyết định khi nào lỗ hiện ra, và Harrigan lưu ý tài sản đã vốn hoá có thể cản việc rút, vì rút trước khi khấu hao hết sẽ để lại một khoản lỗ trên báo cáo (Harrigan, 1981, p. 307). Theo cách tôi đọc: người quản lý bị chấm bằng lợi nhuận năm nay có lý do để chờ, còn chủ doanh nghiệp đang chọn nơi đặt đồng vốn kế tiếp thì không, vì tiền đằng nào cũng đã mất. Đó là bẫy chi phí chìm dưới dạng kế toán.
Số tiền mặt thật sự phụ thuộc vào quyết định nhỏ hơn và đã được báo trước. Target ước chi phí tiền mặt 500 đến 600 triệu USD, phần lớn rơi vào năm tài chính 2015 trở đi, và kỳ vọng quyết định này tăng lợi nhuận từ năm 2015, dòng tiền từ năm 2016 (Target Corporation, 2015). Năm 2014 mảng này lỗ 869 triệu USD trước thuế và chi 228 triệu USD đầu tư tài sản (Target Corporation, 2015). Hai số không cùng loại, vì khoản lỗ gồm 248 triệu USD khấu hao không phải tiền mặt, nên chúng chỉ cho thấy quy mô, không phải thời gian hoàn vốn. Một năm sau, bản 10-K kế tiếp nói việc rút đã tăng dòng tiền sau thuế từ năm 2015; đó là lời của chính Target (Target Corporation, 2016).
Rút khỏi thị trường có phải là bỏ đi những gì mình đã xây?
Không phải lúc nào cũng vậy. Việc rời Đông Nam Á biến doanh nghiệp đang vận hành của Uber thành một khoản cổ phần thiểu số. Ngày 25/3/2018, Grab nhận nhân viên và tài sản của Uber trong khu vực, gồm hợp đồng với khách, tài xế và người đặt món. Uber nhận cổ phiếu ưu đãi Series G của Grab, ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý 2,2 tỷ USD, và ghi khoản lãi 2,3 tỷ USD; tài sản ròng Uber bàn giao "không trọng yếu" (Uber Technologies, Inc., 2019, pp. F-80–F-81).
Khoản cổ phần là tài sản tài chính chứ không phải một hoạt động kinh doanh, và nó đi kèm ràng buộc. Bản cáo bạch cho Uber nắm 30,0% lúc đóng thương vụ và ước 23,2% tại 31/12/2018. Uber chịu ràng buộc hợp đồng không cạnh tranh với Grab ở một số mảng kinh doanh trong khu vực, đến mốc muộn hơn của tháng 3/2023 hoặc một năm sau khi bán hết cổ phần Grab. Uber được quyền bán lại cổ phiếu cho Grab lấy tiền mặt từ 25/3/2023, với điều kiện gồm việc Grab chưa niêm yết, dù hồ sơ ghi việc thu khoản lãi theo hợp đồng là không chắc. Uber còn ghi 116 triệu USD chi phí thuế cho thương vụ năm 2018 (Uber Technologies, Inc., 2019).
Vì sao Uber rời đi? Các đoạn bản cáo bạch tôi đọc không nói. Reuters, đưa tin lúc công bố, cho biết Uber đã đầu tư 700 triệu USD vào khu vực, còn khuyến mãi và giảm giá khắp ngành gọi xe châu Á đã kéo biên lợi nhuận xuống, đẩy các hãng về phía hợp nhất. Bản tin trích ghi chú của tổng giám đốc gửi nhân viên: "One of the potential dangers of our global strategy is that we take on too many battles across too many fronts and with too many competitors" (ôm quá nhiều trận ở quá nhiều mặt trận với quá nhiều đối thủ là một nguy cơ của chiến lược toàn cầu; tôi dịch) (Reuters, 2018). Lý do khác Target: Target nói thị trường sẽ không tới được lợi nhuận, còn ghi chú này nêu rủi ro dàn trải của cả chiến lược toàn cầu. Không nguồn nào tôi đọc nói mảng của Uber không phủ nổi chi phí cố định.
Nghiên cứu của Berry trên 190 công ty Mỹ giai đoạn 1981 đến 2000 coi thoái vốn là phản ứng trước hoạt động yếu, và cả trước những chỗ dùng nguồn lực tốt hơn ở thị trường khác (Berry, 2010). Tôi chỉ đọc phần tóm tắt, và nghiên cứu nói về hoạt động tại nước nhà, nên Uber chỉ khớp theo loại suy, không phải một phép kiểm.
Người đọc Việt Nam thấy cái giá ngay trên đường phố. Uber đóng cửa ở Việt Nam ngày 8/4/2018, hai tuần sau thông báo, và Viet Nam News ghi thời gian báo trước có vẻ quá ngắn cho tài xế và nhân viên (Viet Nam News, 2018). Ngày 16/4/2018, Cơ quan Cạnh tranh Việt Nam (VCA) thuộc Bộ Công Thương mở điều tra sơ bộ vụ mua bán. Tháng 6/2019, Hội đồng Cạnh tranh Quốc gia bác kết luận của VCA rằng Grab vi phạm, và kết luận việc mua lại không phải tập trung kinh tế (Viet Nam News, 2019). Bán cho đối thủ sát sườn có thể kéo cơ quan quản lý vào lối ra.
Vì sao doanh nghiệp ở lại quá lâu trong thị trường thua lỗ?
Vì rút lui có những rào cản tách khỏi kinh tế của thị trường. Bài năm 1976 của Porter nêu rào cản rút lui là những yếu tố ngăn công ty bán bỏ mảng kinh doanh thua lỗ, và chúng đến từ đặc điểm kinh tế của mảng đó, lựa chọn chiến lược của công ty, vấn đề thông tin và mục tiêu xung đột của người quản lý khi quyết định bán (Porter, 1976). Tôi chỉ đọc phần tóm tắt bài này.
Harrigan kiểm ý tưởng trên 61 công ty ở tám mảng kinh doanh suy giảm giai đoạn 1965 đến 1978 (Harrigan, 1981, p. 309). Bà coi chi phí đóng nhà máy và việc thiếu thị trường bán lại là rào cản kinh tế; hình ảnh thương hiệu, nghĩa vụ với khách và cơ sở dùng chung là rào cản chiến lược (Harrigan, 1981, pp. 307–308). Bà cũng kỳ vọng khi rào cản cao, cạnh tranh giữa các đối thủ bị "kẹt" có thể biến động hơn, vì cơ cấu chi phí khuyến khích họ hạ giá để lấp đầy nhà máy (Harrigan, 1981, p. 308). Xác suất rút trung bình là 23,3% khi mảng đó có mức độ quan trọng chiến lược cao và 58,1% khi thấp (Harrigan, 1981, p. 321). Lời khuyên của bà là lên kế hoạch rút ngay lúc vào (Harrigan, 1981, p. 322).
Doanh nghiệp nhỏ chạy phép thử này trên một chi nhánh thế nào?
Viết cạnh nhau điểm hoà vốn, chi phí rút và kế hoạch chạm hoà vốn, rồi ấn định ngày quyết. Ví dụ là giả định: Công ty F, nhà phân phối mỹ phẩm, và chi nhánh ở một thành phố tỉnh; số liệu tính bằng triệu đồng mỗi tháng.
Chi nhánh bán 220 với biên lợi nhuận gộp 30%, nên lợi nhuận gộp là 66. Chi phí cố định là 90 (thuê 40, lương 30, khác 20), nên mỗi tháng lỗ 24. Doanh thu hoà vốn là 90 ÷ 0,30 = 300, cao hơn hiện tại 36%. Nếu cả ngành hàng ở thành phố đó bán 2.200 một tháng, chi nhánh đang giữ 10% và cần 13,6%. Hợp đồng thuê còn 30 tháng, và rút sớm tốn sáu tháng tiền thuê (240) cộng hai tháng lương cho bốn nhân viên (60): 300, một lần.
| Phương án (tiền mặt 12 tháng) | 12 tháng | Sau tháng 12 |
|---|---|---|
| A. Ở lại, doanh thu giữ 220 | –288 | –24 mỗi tháng |
| B. Ở lại, doanh thu tăng 10 mỗi tháng | –90 | Dương từ tháng 10, +9 ở tháng 12 |
| C. Đóng chi nhánh, bỏ thành phố | –300 | 0 |
| D. Đóng, phục vụ thành phố qua đại lý đem lại 20 lợi nhuận gộp mỗi tháng (giả định) | –60 | +20 mỗi tháng |
Nếu doanh thu đứng yên, chi phí rút 300 bằng 12,5 tháng lỗ (300 ÷ 24). Nếu kế hoạch chạy đúng, phương án B chạm hoà vốn ở tháng 9 sau khi lỗ luỹ kế 108. Vậy câu hỏi không phải "có đang lỗ không?" mà là "điều gì phải đúng để doanh thu lên 300, và điều gì cho thấy sớm?" Hãy đặt mốc báo động ngay bây giờ: doanh thu tháng 4 dưới 250 thì đóng. Chờ bốn tháng đó tốn tối đa 96.
Phương án D cho thấy khác biệt giữa rời đi và bỏ đi: thành phố vẫn đóng góp, không tiền thuê, không lương, dù con số của đại lý chỉ là giả định. Phép thử hợp với chi nhánh, thành phố hay kênh bán có doanh thu và chi phí cố định đo được. Nó hợp kém khi đơn vị nuôi phần còn lại của doanh nghiệp qua kho dùng chung, thương hiệu hay khách chủ chốt, những thứ Harrigan xếp vào rào cản chiến lược (Harrigan, 1981, pp. 308–309).
Đào sâu: ý tưởng rào cản rút lui đến từ đâu, và các nguồn này chưa cho thấy gì?
Khái niệm bắt đầu từ bài năm 1976 của Porter và chương về rào cản rút lui của Caves và Porter, in cùng năm, mà tôi chỉ biết qua phần trích dẫn của Harrigan (Harrigan, 1981). Kết quả của Harrigan khác chương đó ở một điểm: Caves và Porter không thấy mẫu hình có ý nghĩa thống kê với rào cản liên quan đến sản xuất, còn mô hình của bà cho thấy tài sản bền và chuyên dụng có thể là yếu tố rất đáng kể làm giảm khả năng rút sớm (Harrigan, 1981, p. 322). Đó là bất đồng giữa hai nghiên cứu đầu tiên, chưa phải kết luận chốt.
Giới hạn của các nguồn học thuật. Tám mảng của Harrigan, từ ấm pha cà phê đến thức ăn trẻ em, là các dòng sản phẩm đang suy giảm, không phải bán lẻ hay dịch vụ (Harrigan, 1981, p. 309). Chỉ hơn một nửa trong 36 đối thủ bà phỏng vấn chịu cung cấp số liệu tài chính đã che danh tính, nên bà dựng thang tương đối từ các cuộc phỏng vấn (Harrigan, 1981, p. 311). Các công ty của Berry thoái hoạt động tại nước nhà.
Giới hạn của hai hồ sơ. Target là một trường hợp, và 5,1 tỷ USD của hãng phần lớn là ghi giảm kế toán, không phải lỗ tiền mặt. Tôi không đọc báo cáo của người giám sát do toà chỉ định, nên không biết các hợp đồng thuê và cửa hàng bán được bao nhiêu; 10-K năm 2016 chỉ nói tài sản ròng được định giá theo giá thanh lý nhận được (Target Corporation, 2016). Con số 2,2 tỷ USD của Uber là giá trị hợp lý lúc đó, cho cổ phiếu ưu đãi của một công ty chưa niêm yết. Tôi không đọc các hồ sơ sau, nên "giữ được giá trị" nghĩa là giá trị ghi nhận lúc rút, không phải giá trị đã thu về. Không hồ sơ nào cho thấy nguồn lực được giải phóng sinh lời hơn ở chỗ khác, mà đó là luận điểm đằng sau "kỷ luật danh mục".
Thư viện xếp chiến lược cạnh tranh tổng quát của Porter vào chủ đề này. Vị thế dựa vào giá thấp cần sản lượng để gánh chi phí cố định; đó là cách tôi đọc, và hồ sơ Target không nói các cửa hàng Canada có theo chiến lược đó không. Các vụ rút khác: Tesco rời Mỹ và Unilever tách mảng kem.
Tôi đọc những gì? Ngày 3/11/2026 tôi đọc toàn văn Harrigan (1981) qua bản quét mà tôi nhận dạng chữ (chỉ dùng phần văn bản và Bảng 7, vì các bảng hồi quy quét không rõ), thông cáo báo chí của Target, bản tin Reuters và hai bài của Viet Nam News. Với hai bản 10-K của Target tôi đọc các đoạn về Canada, với S-1 của Uber tôi đọc các đoạn về Đông Nam Á, không đọc cả tài liệu. Porter (1976) và Berry (2010) tôi chỉ đọc phần tóm tắt.
Hỏi nhanh
Rút khỏi thị trường đang lỗ có luôn là quyết định đúng không?
Không. Phép thử nhìn về phía trước: so giá trị chiết khấu kỳ vọng của việc tiếp tục hoạt động với giá trị thanh lý hoặc bán thu được khi rút, tức phép tính giá trị từ bỏ mà Harrigan mô tả (Harrigan, 1981, p. 307). Tiền đã chi không có mặt trong tỷ số đó. Nếu có bằng chứng doanh thu sớm chạm hoà vốn, ở lại có thể rẻ hơn rời đi, như ví dụ chi nhánh giả định bên dưới.
Rút khỏi thị trường có nghĩa là khoản đầu tư bị bỏ phí không?
Không hẳn, và hai hồ sơ cho hai kết cục khác nhau. Target ghi giảm khoản đầu tư ở Canada về gần 0, còn mảng Đông Nam Á của Uber thành một khoản cổ phần ghi nhận ban đầu 2,2 tỷ USD (Target Corporation, 2015; Uber Technologies, Inc., 2019, p. F-80). Bút toán lúc rút cho biết khoản lỗ được ghi nhận khi nào, không cho biết nó phát sinh khi nào.
Vì sao doanh nghiệp cứ ở lại ngành kinh doanh thua lỗ?
Bài năm 1976 của Porter nêu bốn nguồn rào cản rút lui: đặc điểm kinh tế của mảng kinh doanh, lựa chọn chiến lược của công ty, vấn đề thông tin và mục tiêu xung đột của người quản lý (Porter, 1976). Trong mô hình của Harrigan trên 61 công ty, tài sản bền và chuyên dụng, cơ sở dùng chung và ràng buộc vô hình với khách hàng, kênh phân phối làm giảm khả năng rút (Harrigan, 1981, pp. 314, 322). Mẫu của bà là sản phẩm như ấm pha cà phê và xì gà, không phải cửa hàng hay dịch vụ.
Doanh nghiệp nhỏ hay bỏ sót chi phí rút lui nào?
Hợp đồng thuê và người trong bảng lương. Target lập dự phòng 240 triệu USD cho các khoản nợ tiềm tàng, chủ yếu từ bảo lãnh hợp đồng thuê ở Canada, và đưa 73 triệu USD vào quỹ tín thác cho nhân viên (Target Corporation, 2015). Tài xế Uber ở Việt Nam chỉ có hai tuần từ lúc công bố đến lúc đóng cửa (Viet Nam News, 2018).
Tài liệu tham khảo
Xếp A–Z theo họ tác giả, kiểu Harvard. Nguồn có DOI thì link https://doi.org/…; nguồn không có DOI thì link trang nguồn hoặc ghi rõ không có DOI.
- Berry, H. (2010) ‘Why do firms divest?’, Organization Science, 21(2), pp. 380–396.doi:10.1287/orsc.1090.0444Được trích trong 1 bài
- Harrigan, K.R. (1981) ‘Deterrents to divestiture’, Academy of Management Journal, 24(2), pp. 306–323.doi:10.2307/255843Được trích trong 1 bài
- Porter, M.E. (1976) ‘Please note location of nearest exit’, California Management Review, 19(2), pp. 21–33.doi:10.2307/41164693Được trích trong 1 bài
- Reuters (2018) Uber sells Southeast Asia business to Grab after costly battle. Gulf News (Reuters wire).Không có DOIgulfnews.comĐược trích trong 1 bài
- Target Corporation (2015) Form 10-K for the fiscal year ended 31 January 2015. SEC EDGAR (Form 10-K).Không có DOIsec.govĐược trích trong 1 bài
- Target Corporation (2015) Target Corporation announces plans to discontinue Canadian operations (press release, 15 January 2015). Target Corporate.Không có DOIcorporate.target.comĐược trích trong 1 bài
- Target Corporation (2016) Form 10-K for the fiscal year ended 30 January 2016. SEC EDGAR (Form 10-K).Không có DOIsec.govĐược trích trong 1 bài
- Uber Technologies, Inc. (2019) Form S-1 registration statement. SEC EDGAR (Form S-1).Không có DOIsec.govĐược trích trong 1 bài
- Viet Nam News (2018) Drivers struggle after Uber calls time in Việt Nam (16 April 2018). Viet Nam News.Không có DOIvietnamnews.vnĐược trích trong 1 bài
- Viet Nam News (2019) No violation found in Grab-Uber deal: VCC (20 June 2019). Viet Nam News.Không có DOIvietnamnews.vnĐược trích trong 1 bài

Bài này có ích với bạn không?
Chưa có lượt chấm nào.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận, hãy là người đầu tiên.