Chiến lược & lãnh đạoĐăng 10 phút đọcCó bản English

Sau thương vụ: bốn kiểu tích hợp và cách chọn

Dành cho lãnh đạo vừa mua hoặc sắp mua một doanh nghiệp khác. Bài mô tả bốn kiểu tích hợp của Haspeslagh và Jemison (hấp thụ, giữ nguyên, cộng sinh, nắm giữ), một cách đặt hai câu hỏi về phụ thuộc và tự chủ để chọn, và vì sao ba thương vụ công khai chưa đủ để chấm điểm kiểu nào.

Xem .mdLinkedIn

Bạn vừa ký xong việc mua một công ty. Sáng thứ Hai, câu hỏi thực tế là có nhập họ vào hệ thống của mình, để họ chạy riêng, hay làm điều gì ở giữa. Một cách trả lời dễ gặp là dựa vào cảm giác về văn hoá. Bài này hỏi một câu khác: hai bên cần nhau đến đâu, và bên kia cần được để yên đến đâu?

Bốn kiểu tích hợp là gì?

Haspeslagh và Jemison (1991) đề xuất bốn kiểu tích hợp sau mua lại. Tôi mô tả chúng theo bản tóm tắt của thư viện site, vì tôi chưa đọc cuốn sách. Hai trục là nhu cầu phụ thuộc chiến lược (hai bên cần chia sẻ năng lực và nguồn lực đến đâu để thương vụ có ý nghĩa) và nhu cầu tự chủ của đơn vị bị mua (cần để họ tự điều hành đến đâu để giữ thứ đã mua). Hai cách giải thích trong ngoặc là của tôi, không phải của thư viện (Haspeslagh và Jemison, 1991).

Bốn kiểu tích hợp sau mua lại

Vừa mua xong một công ty, ban lãnh đạo bên mua nên hấp thụ, giữ nguyên, cộng sinh hay chỉ nắm giữ, khi cân giữa nhu cầu phụ thuộc chiến lược và quyền tự chủ của bên bị mua?

ThấpNhu cầu tự chủ của đơn vị bị muaCao
Giữ nguyên

Tự chủ cao, phụ thuộc thấp: giữ doanh nghiệp vận hành riêng.

Cộng sinh

Cả hai cùng cao: học hỏi hai chiều, chuyển đổi dần.

Nắm giữ

Cả hai cùng thấp: chủ yếu là quan hệ tài chính.

Hấp thụ

Tự chủ thấp, phụ thuộc cao: sáp nhập hoàn toàn vào bên mua.

ThấpNhu cầu phụ thuộc chiến lượcCao
Hình 1 · (bốn kiểu tích hợp theo bản tóm tắt của thư viện site về Haspeslagh và Jemison, 1991)Trang framework

Đọc theo bản tóm tắt: hấp thụ khi tự chủ thấp, phụ thuộc cao, nghĩa là sáp nhập hẳn vào bên mua. Giữ nguyên khi tự chủ cao, phụ thuộc thấp, nghĩa là giữ doanh nghiệp vận hành riêng. Cộng sinh khi cả hai cùng cao: học hỏi hai chiều và chuyển đổi dần. Nắm giữ khi cả hai cùng thấp: quan hệ chủ yếu là tài chính (Haspeslagh và Jemison, 1991).

Có hai điều tôi rút ra từ cách xếp này. Một, không ô nào là "tốt nhất": hợp nhất mạnh tay không tự nhiên cho hiệp lực lớn hơn nếu bên kia cần tự chủ để giữ thứ bạn đã trả tiền. Hai, "nắm giữ" là một lựa chọn hợp lệ, không phải thất bại tích hợp; thương vụ có thể chủ yếu là đầu tư tài chính. Đây là suy luận của tôi từ bố cục hai trục, không phải câu chữ của các tác giả.

Chọn kiểu theo văn hoá hay theo loại giá trị?

Ghi chú của thư viện nêu cái bẫy: chọn kiểu tích hợp theo văn hoá thay vì theo loại giá trị cần chuyển giao (Haspeslagh và Jemison, 1991). Đây là cách đọc của tôi. Văn hoá là câu trả lời dễ lấy: "họ quá lộn xộn so với mình" hoặc "họ quá khác mình nên để họ yên". Cả hai nghe có lý và đều có thể sai nếu chưa hỏi mình đã mua gì.

Thứ tự câu hỏi mà tôi đề nghị, dựa trên hai trục:

  1. Mình trả tiền để có thứ gì, và thứ đó chỉ có giá trị khi nào? Một đội kỹ sư, một thương hiệu, một mạng lưới phân phối, hay dòng tiền?
  2. Muốn thu giá trị ấy, cái gì phải chuyển qua ranh giới giữa hai bên: dữ liệu, quy trình, con người, sản phẩm? Càng nhiều thì nhu cầu phụ thuộc càng cao.
  3. Nếu can thiệp vào cách họ làm việc, thứ mình đã mua có hỏng không? Nếu có, nhu cầu tự chủ cao.
  4. Văn hoá và quy trình hai bên lệch nhau đến đâu, và chi phí để thu hẹp khoảng cách là bao nhiêu? Đến đây văn hoá mới vào cuộc, như một chi phí của kiểu đã chọn, không phải căn cứ để chọn.

Thứ tự này là của tôi, không trích từ sách.

Ba thương vụ công khai cho thấy gì?

Tôi dùng ba ca có nguồn công khai của thư viện để thử xem tài liệu công khai trả lời được câu hỏi nào ở trên. Đây không phải đánh giá thành bại; tôi không có nguồn về điều xảy ra sau các thương vụ.

Microsoft và Nokia (thông cáo 3/9/2013). Microsoft sẽ mua gần như toàn bộ mảng Thiết bị và Dịch vụ của Nokia với 3,79 tỷ euro, và trả thêm 1,65 tỷ euro để cấp phép bằng sáng chế, tổng 5,44 tỷ euro tiền mặt. Microsoft mua cả đội thiết kế, các cơ sở sản xuất liên quan và hoạt động bán hàng, marketing của mảng này; khoảng 32.000 người dự kiến chuyển sang Microsoft khi hoàn tất. Microsoft nêu mục tiêu tăng tốc thị phần và lợi nhuận về điện thoại nhờ đổi mới nhanh hơn, hiệp lực nhiều hơn và thương hiệu cùng marketing thống nhất (tôi dịch). Nokia giữ bằng sáng chế và tiếp tục sở hữu thương hiệu Nokia, trong khi Microsoft mua thương hiệu Asha và Lumia và cấp phép thương hiệu Nokia cho điện thoại hiện có (Microsoft Corporation, 2013). Xem thêm ca Microsoft–Nokia.

Theo cách đọc của tôi, ý định công bố nghiêng về phụ thuộc cao: thông cáo nói về hiệp lực và thương hiệu thống nhất, và chuyển cả đội ngũ sản xuất lẫn bán hàng. Thông cáo không mô tả chi tiết bên Nokia sẽ được tự chủ đến đâu sau khi hoàn tất, và phần tuyên bố hướng tới tương lai của Microsoft liệt kê hiệu quả tích hợp mảng này là một yếu tố rủi ro (Microsoft Corporation, 2013). Từ đó tôi không kết luận được kiểu đã dùng, càng không biết kết quả.

Disney và Marvel (thông cáo 31/12/2009). Cổ đông Marvel nhận 30 USD tiền mặt cộng khoảng 0,7452 cổ phiếu Disney trên mỗi cổ phiếu Marvel, tính theo giá đóng cửa của Disney ngày 31/12. Tài sản của Marvel gồm thư viện hơn 5.000 nhân vật xuất hiện trên nhiều phương tiện suốt 70 năm, và các mảng cấp phép, sản xuất phim, xuất bản. Disney nói tiềm năng sáng tạo và kinh doanh của sự kết hợp là "đáng kể" (The Walt Disney Company, 2009). Xem thêm ca Disney.

Câu hỏi một là thứ đã mua. Thông cáo nêu tài sản của Marvel gồm thư viện nhân vật và các mảng cấp phép, phim, xuất bản, và người đứng đầu Disney chào đón "nhóm người tài năng" của Marvel. Nhưng nó không mô tả Disney định điều hành Marvel thế nào, nên không thể xếp vào ô nào. Tôi chỉ đặt được câu hỏi: nếu giá trị nằm ở nhóm người ấy, can thiệp quá tay có làm hỏng nó không?

Kraft và Cadbury (báo cáo 8-K, 3/2/2010). Kraft đề nghị 500 pence tiền mặt và 0,1874 cổ phiếu Kraft cho mỗi cổ phiếu phổ thông Cadbury. Nếu mua toàn bộ cổ phiếu Cadbury, Kraft ước tính phát hành tối đa khoảng 265 triệu cổ phiếu và chi khoảng 7,1 tỷ bảng tiền mặt. Đến ngày 2/2/2010, Kraft nhận chấp thuận cho khoảng 71,73% vốn Cadbury và tuyên bố đề nghị đã vô điều kiện (Kraft Foods Inc., 2010). Xem thêm ca Kraft–Cadbury. Tôi không thấy nội dung nào về tích hợp trong báo cáo; nó cho thấy giới hạn của nguồn: hồ sơ có giá và điều kiện, không có kiểu tích hợp.

Áp dụng cho một thương vụ giả định như thế nào?

Ví dụ giả định. "Chuỗi điện máy A" có 40 cửa hàng ở miền Nam và làm việc với "Startup B", một nhóm 12 người làm ứng dụng giao hàng nội thành. Tên và con số đều do tôi bịa. Bảng dưới cho thấy cùng một thương vụ có thể dẫn tới bốn kiểu khác nhau tuỳ câu trả lời cho câu hỏi một và hai.

Mục đích mua Phụ thuộc Tự chủ Kiểu nghiêng về Điều cần theo dõi
Giữ đội kỹ sư tiếp tục phát triển ứng dụng như cũ Thấp Cao Giữ nguyên Kỹ sư có ở lại không; ứng dụng có bán ngoài chuỗi không
Đưa ứng dụng vào tất cả 40 cửa hàng, dùng chung kho và dữ liệu đơn Cao Thấp Hấp thụ Đội B có chịu quy trình của A không
Dùng dữ liệu bán hàng của A để B thử nghiệm nhanh, rồi A học lại cách làm Cao Cao Cộng sinh Hai bên có thật sự chia sẻ thông tin hai chiều không
Mua một phần nhỏ, chủ yếu như khoản đầu tư tài chính, chưa định điều hành Thấp Thấp Nắm giữ Ai quyết định, và khi nào chuyển kiểu

Cái bẫy trong ví dụ này là A thấy B "lộn xộn, không có quy trình", nên hấp thụ ngay. Nếu A mua B vì tốc độ thử nghiệm của đội 12 người, bắt họ theo quy trình duyệt của một chuỗi 40 cửa hàng có thể làm mất chính thứ đã mua. Ngược lại, nếu A mua B để chạy ứng dụng trên toàn chuỗi mà vẫn "giữ nguyên vì văn hoá của họ khác", A sẽ không có dữ liệu chung để ứng dụng chạy được. Hai kết luận này là suy luận của tôi từ hai trục; bài không có số đo nào chứng minh.

Cách phân loại này hợp khi mục đích mua rõ và một câu trả lời trội hơn. Nó không hợp nếu A mua B vì nhiều lý do cùng lúc: khi đó bạn nên tách từng phần của B và hỏi riêng, thay vì gán một nhãn cho cả thương vụ.

Đào sâu: tôi đã đọc gì, chưa đọc gì?

Tôi chưa đọc cuốn "Managing acquisitions: creating value through corporate renewal" của Haspeslagh và Jemison (Free Press, 1991). Mọi điều về bốn kiểu, hai trục và cái bẫy văn hoá lấy từ bản tóm tắt khung của thư viện site, nên tôi không biết các tác giả định nghĩa hai nhu cầu cụ thể ra sao, dùng ví dụ nào, hay lập luận thế nào cho bẫy này. Phần giải thích trong ngoặc ở mục đầu và danh sách bốn câu hỏi là của tôi. Nếu bạn dùng khung cho một quyết định thật, hãy đọc cuốn sách trước.

Tôi đọc toàn văn thông cáo của Microsoft và của Disney, và các đoạn nêu điều khoản trong báo cáo 8-K của Kraft. Thư viện còn ghi một nguồn của Disney về thương vụ 21st Century Fox năm 2019; bài này không dùng vì chỉ bàn Marvel, Nokia và Cadbury. Không tài liệu nào trong ba tài liệu tôi đọc nêu kết quả sau thương vụ, nên bài này không nói thương vụ nào thành công. Thông cáo là văn bản của chính bên mua, viết lúc công bố, nên các mục tiêu trong đó là kỳ vọng, không phải kết quả.

Hỏi nhanh

Bốn kiểu tích hợp của Haspeslagh và Jemison là gì?

Theo bản tóm tắt của thư viện site, đó là hấp thụ, giữ nguyên, cộng sinh và nắm giữ. Chúng nằm trên hai trục: nhu cầu phụ thuộc chiến lược giữa hai bên, và nhu cầu tự chủ của đơn vị bị mua. Hấp thụ là phụ thuộc cao, tự chủ thấp; giữ nguyên là tự chủ cao, phụ thuộc thấp; cộng sinh là cả hai cùng cao; nắm giữ là cả hai cùng thấp [@haspeslagh-1991]. Tôi chưa đọc cuốn sách, nên chỉ nêu điều bản tóm tắt ấy ghi.

Chọn kiểu tích hợp theo văn hoá có sai không?

Thư viện ghi đây là một cái bẫy: chọn kiểu theo văn hoá thay vì theo loại giá trị cần chuyển giao giữa hai bên [@haspeslagh-1991]. Đó là điều bản tóm tắt nêu; tôi chưa đọc sách nên không biết các tác giả lập luận ra sao. Lý do tôi thấy hợp lý là văn hoá trả lời câu hỏi hai bên có hợp nhau không, còn câu hỏi về loại giá trị cần chuyển giao gần với "mình trả tiền để có thứ gì".

Hồ sơ công khai của một thương vụ có cho biết kiểu tích hợp không?

Trong ba tài liệu bài này đọc, không đủ. Thông cáo của Disney về Marvel và của Microsoft về Nokia nêu giá, phạm vi và kỳ vọng về lợi ích (Microsoft nêu hiệp lực, Disney nói tiềm năng "đáng kể"); báo cáo 8-K của Kraft về Cadbury chỉ nêu giá, phạm vi và tiến độ chấp thuận. Không tài liệu nào mô tả chi tiết bên bị mua sẽ được điều hành thế nào sau thương vụ, và không tài liệu nào nêu kết quả [@disney-2009; @microsoft-2013; @kraft-2010].

Hấp thụ hoàn toàn có phải luôn cho hiệp lực lớn nhất?

Bản tóm tắt của thư viện không nói kiểu nào luôn tốt nhất. Mỗi kiểu ứng với một tổ hợp hai nhu cầu, nên theo cách đọc của tôi không kiểu nào là mặc định tốt nhất [@haspeslagh-1991]. Bài này không có số đo kết quả của kiểu nào.

Tài liệu tham khảo

Xếp A–Z theo họ tác giả, kiểu Harvard. Nguồn có DOI thì link https://doi.org/…; nguồn không có DOI thì link trang nguồn hoặc ghi rõ không có DOI.

  1. Haspeslagh, P.C. and Jemison, D.B. (1991) Managing acquisitions: creating value through corporate renewal. New York: Free Press.Không có DOIĐược trích trong 2 bài
  2. Kraft Foods Inc. (2010) Form 8-K: current report (Kraft Foods Inc.). U.S. Securities and Exchange Commission, EDGAR.Không có DOIsec.govĐược trích trong 1 bài
  3. Microsoft Corporation (2013) Microsoft to acquire Nokia's devices & services business, license Nokia's patents and mapping services. Microsoft News Center.Không có DOInews.microsoft.comĐược trích trong 1 bài
  4. The Walt Disney Company (2009) Disney completes Marvel acquisition. The Walt Disney Company press release.Không có DOIthewaltdisneycompany.comĐược trích trong 2 bài
Đọc tiếp

Bài liên quan

Tất cả bài viết

Bài này có ích với bạn không?

Chấm điểm bài viết từ 1 đến 5 sao

Chưa có lượt chấm nào.

Bình luận (0)

Chưa có bình luận, hãy là người đầu tiên.

Viết bình luận

Bình luận được kiểm duyệt trước khi hiện. Có thể mất vài giờ.