Thu giá trị từ đổi mới: ba câu hỏi của Teece cho người khởi nghiệp
Dành cho người sáng lập sắp tung ra một sản phẩm mà đối thủ có thể sao chép trong vài tháng. Câu trả lời ngắn là hỏi ba điều trước khi lo công nghệ. Ai nắm tài sản bổ trợ, bảo hộ chặt hay lỏng, và thiết kế thống trị đã xuất hiện chưa.
Một nhóm sáng lập vừa làm xong sản phẩm. Họ biết một xưởng cơ khí hay nhà bán lẻ lớn có thể ra bản gần giống trong vài tháng. Câu hỏi còn lại là "ai giữ phần lợi nhuận". Khung thu giá trị từ đổi mới của Teece (1986) dựa trên ba khối nền, tôi diễn đạt thành ba câu hỏi. Khác với bài đổi mới không phải phát minh, bài này bàn việc ai hưởng lợi khi sản phẩm đã thành công.
Vì sao người đổi mới đầu tiên không phải lúc nào cũng là người được lợi?
Vì lợi nhuận đi theo những thứ ngoài công nghệ. Teece nhắm vào các công ty mạnh về khoa học kỹ thuật vẫn tin rằng sản phẩm đáp ứng nhu cầu sẽ bảo đảm thành công: điều đó có thể đúng với sản phẩm, nhưng không đúng với người đổi mới (Teece, 1986, p. 285).
EMI là ví dụ kinh điển trong bài. Máy chụp cắt lớp của hãng đòi hỏi huấn luyện, hỗ trợ và bảo trì cao. Theo Teece, EMI không có các năng lực đó, không dễ thuê được và chậm nhận ra chúng cần đến mức nào; hãng có lẽ đã có thể hợp tác với một công ty như Siemens. Bảo hộ pháp lý cũng hạn chế, vì máy đã ra thị trường thì có thể bị kỹ thuật đảo ngược (Teece, 1986, p. 298). Trong vòng 6 năm sau khi vào Mỹ năm 1973, EMI mất vị trí dẫn đầu (Teece, 1986, p. 286). IBM thì ngược lại: máy tính cá nhân năm 1981 không tiên tiến về kiến trúc hay linh kiện, vậy mà hãng giao hơn 500.000 máy đến cuối năm 1984 (Teece, 1986, p. 286), và Teece coi danh tiếng IBM có lẽ là tài sản đồng chuyên biệt lớn nhất của hãng (Teece, 1986, p. 299). Đó là cách đọc của Teece; tôi chưa đối chiếu với lịch sử độc lập.
Thu giá trị từ đổi mới
Khi tung ra sản phẩm mới mà đối thủ dễ bắt chước, CEO cần tự làm, hợp tác hay cấp phép để không mất phần lợi nhuận vào tay người theo sau?
Câu hỏi 1: ai kiểm soát các tài sản bổ trợ?
Ai nắm kênh phân phối, sản xuất, dịch vụ sau bán và danh tiếng mà sản phẩm cần để ra thị trường. Gần như mọi lần thương mại hoá đều cần marketing, sản xuất cạnh tranh được và hỗ trợ sau bán (Teece, 1986, p. 288). Có ba loại tài sản bổ trợ.
| Loại | Phụ thuộc | Ví dụ của Teece |
|---|---|---|
| Chung | Không cần chỉnh theo đổi mới | Nhà máy giày chạy bộ (Teece, 1986, p. 289) |
| Chuyên biệt | Một chiều | Kênh thông tin chuyên biệt cho thuốc mới (Teece, 1986, p. 288) |
| Đồng chuyên biệt | Hai chiều | Cơ sở sửa chữa cho động cơ quay của Mazda (Teece, 1986, p. 289) |
Thiết bị và kỹ năng phổ thông gần như luôn có sẵn. Tài sản chuyên biệt khó mua bằng hợp đồng vì bên đầu tư riêng cho nó chịu rủi ro lớn (Teece, 1986, pp. 291-292). Người sáng lập kẻ bốn dòng (phân phối, sản xuất, sau bán, danh tiếng) và hỏi mỗi dòng: chung hay chuyên biệt, ai đang nắm. Tài sản bạn định xây có đáng đầu tư không thì kiểm bằng VRIO; xem thêm kết quả âm tính vẫn tốt.
Câu hỏi 2: chế độ bảo hộ chặt hay lỏng?
Chế độ bảo hộ là các yếu tố môi trường, ngoài cấu trúc doanh nghiệp và thị trường, quyết định khả năng giữ lợi nhuận của người đổi mới: bản chất công nghệ và hiệu lực pháp lý (Teece, 1986, p. 287).
Bằng sáng chế hiếm khi bảo hộ trọn vẹn: nhiều bằng bị "đi vòng" với chi phí khiêm tốn, và đặc biệt yếu với đổi mới quy trình. Bí mật kinh doanh dùng được khi sản phẩm ra công chúng mà vẫn giữ kín công nghệ, thường chỉ là công thức và quy trình. Tri thức ngầm khó truyền nếu người nắm nó không làm mẫu (Teece, 1986, p. 287). Teece chia thô làm chặt (công thức Coca-Cola) và lỏng (thuật toán Simplex), và nói bảo hộ chặt là ngoại lệ chứ không phải quy tắc (Teece, 1986, pp. 287, 290).
Thử hỏi theo cách của tôi, không phải của Teece: nếu đối thủ tháo sản phẩm của bạn ra, họ sao chép được gì trong một quý?
Câu hỏi 3: thiết kế thống trị đã xuất hiện chưa?
Thiết kế thống trị xuất hiện khi, sau nhiều thử nghiệm trên thị trường, một thiết kế nổi lên và đáp ứng khá đầy đủ bộ nhu cầu người dùng, như Ford Model T, IBM 360 hay Douglas DC-3. Sau đó cạnh tranh chuyển sang giá (Teece, 1986, p. 288).
Trước đó tài sản bổ trợ chưa nổi lên vì cuộc đua là tìm thiết kế sẽ thắng; sau đó, tiếp cận chúng trở thành điều kiện sống còn (Teece, 1986, p. 291). Rủi ro cho người đổi mới là người theo sau sửa sản phẩm trước thời điểm ấy, và bản sửa của họ có thể được chọn làm chuẩn (Teece, 1986, p. 288). Khi bảo hộ lỏng, Teece khuyên để thiết kế cơ bản "trôi" cho tới khi có bằng chứng về thiết kế sẽ thành chuẩn, và gắn chặt với thị trường (Teece, 1986, pp. 290-291).
Ba câu trả lời dẫn tới tự làm, hợp tác hay cấp phép thế nào?
Theo tổ hợp của hai câu hỏi đầu. Câu hỏi thứ ba chỉ đổi thời điểm các tài sản ấy trở nên quyết định.
| Chế độ bảo hộ | Tài sản bổ trợ | Cách đọc của Teece |
|---|---|---|
| Chặt | Chung, nhiều nguồn cung | Hợp đồng, kể cả cấp phép, thường đủ (Teece, 1986, pp. 290, 293) |
| Chặt | Chuyên biệt hoặc đồng chuyên biệt | Hợp đồng có rủi ro vì một hoặc cả hai bên đầu tư khó thu hồi; nên cân nhắc tích hợp (Teece, 1986, p. 290) |
| Lỏng | Chuyên biệt, quyết định thành bại | Tích hợp để thắng người bắt chước; thiếu vốn thì nắm cổ phần thiểu số (Teece, 1986, pp. 295-296) |
| Lỏng | Chung | Văn bản tôi đọc không nêu quy tắc riêng |
Hợp đồng đỡ tốn vốn, nhưng đối tác có thể thành đối thủ (Teece, 1986, pp. 293-294). Tích hợp giúp kiểm soát, nhưng dựng tài sản chuyên biệt là vô ích nếu người bắt chước làm nhanh và rẻ hơn (Teece, 1986, p. 295). Ký hợp đồng cho năng lực quyết định khi nên tự xây có thể nuôi lớn một đối thủ phục vụ thị trường tốt hơn bạn (Teece, 1986, pp. 297-298).
Anh Tâm nên làm gì với bộ lọc nước dễ sao chép?
Ví dụ giả định: anh Tâm là nhân vật tôi đặt ra, mọi con số đều bịa để minh hoạ. Anh làm bộ lọc nước đặt dưới bồn rửa. Vỏ nhìn là bắt chước được; điểm riêng nằm ở lõi lọc theo công thức vật liệu anh tự điều chỉnh, và khách thay lõi hai lần mỗi năm.
| Phần | Câu trả lời giả định | Hướng xử lý |
|---|---|---|
| Sản xuất vỏ | Tài sản chung: nhiều xưởng ép nhựa nhận gia công | Thuê ngoài, giữ ít nhất hai xưởng |
| Lõi lọc | Đồng chuyên biệt: chỉ có nghĩa với bộ lọc này | Giữ trong nhà |
| Phân phối | Chuỗi điện máy mở nhanh đường tới khách nhưng nắm kệ hàng | Hợp tác không độc quyền, giữ kênh trực tuyến riêng |
| Lắp đặt, bảo hành | Chuyên biệt: cần thợ đến nhà | Xây mạng thợ liên kết |
| Bảo hộ, thiết kế | Vỏ lỏng; lõi khá chặt nếu công thức giữ kín. Thiết kế thống trị chưa có | Giữ bí mật công thức; tránh đặt khuôn đắt sớm |
Một bộ bán lẻ 2.400.000 đồng, chuỗi điện máy giữ 25% (600.000 đồng), giá thành 1.350.000 đồng, nên lãi gộp 450.000 đồng. Lõi bán 300.000 đồng qua kênh trực tuyến, sau phí sàn và giao hàng 20% còn 240.000 đồng, giá thành 90.000 đồng, lãi 150.000 đồng mỗi lõi. Ba năm khách thay 6 lõi: lãi từ lõi 900.000 đồng, gấp đôi lãi bán máy, tổng lãi 1.350.000 đồng, lõi chiếm 67%.
Nếu xưởng khác ra lõi tương thích và lấy 60% lượt thay, anh giữ 40%: lãi từ lõi còn 360.000 đồng, tổng lãi 810.000 đồng, lõi chiếm 44%, tổng lãi giảm 40%. Mức bảo hộ của lõi, không phải của vỏ, quyết định phần lớn lãi. Phân loại trong bảng là phán đoán của tôi, không phải kết luận của nguồn.
Khi nào dùng khung này, khi nào không?
Dùng khi sản phẩm dễ sao chép, cần năng lực phía sau như phân phối hay dịch vụ, và bạn nhỏ hơn bên nắm chúng: công ty lớn thường đã có sẵn tài sản chuyên biệt, công ty nhỏ ít khi có (Teece, 1986, p. 301). Chưa dùng được khi bạn chưa chắc có thị trường, vì phân tích giả định đổi mới đã có thị trường (Teece, 1986, p. 300).
Đào sâu: khung này từ đâu ra và còn thiếu gì?
Nguồn gốc là bài của Teece (1986) trên Research Policy, tập 15, số 6, trang 285–305 (Teece, 1986). Tôi đọc một bản toàn văn do trang bên thứ ba lưu, không phải trang nhà xuất bản. Bản trích chữ có chỗ nhận dạng sai và vài đoạn bị cụt; các hình 1–11, kể cả hai sơ đồ quyết định ở hình 10 và 11, không đọc được, nên tôi chỉ dựa vào văn bản mô tả chúng. Số trang ghi theo trang tạp chí.
Chính Teece nêu các giới hạn: chia chặt và lỏng là đơn giản hoá thô (Teece, 1986, p. 287); mô hình thiết kế thống trị của Abernathy và Utterback hợp với thị trường đại chúng hơn thị trường ngách (Teece, 1986, p. 288); phân tích giả định thị trường đã có (Teece, 1986, p. 300).
Jacobides, Knudsen và Augier (2006) đăng trên Research Policy, tập 35, số 8, trang 1200–1221 (Jacobides et al., 2006). Tôi chỉ đọc phần tóm tắt, qua bản working paper trên SSRN; toàn văn trên SSRN, ScienceDirect và ResearchGate đều chặn khi tôi thử mở. Theo tóm tắt, bài mở rộng Teece bằng cách nhấn mạnh "kiến trúc ngành", tức khuôn mẫu toàn ngành quy định phân công lao động. Nhóm tác giả cho rằng doanh nghiệp có thể tạo "lợi thế kiến trúc", thu giá trị cao mà không tích hợp dọc, khi nâng được cả tính bổ trợ lẫn tính di động của yếu tố ở các khâu mình không làm (Jacobides et al., 2006). Cách đọc của tôi, chỉ từ phần tóm tắt: người thu được giá trị phụ thuộc vào vị trí trong cấu trúc ngành, không chỉ vào tài sản của riêng bạn.
Khung không nói giá bao nhiêu hay huy động vốn thế nào, cũng không đo được độ chặt của bảo hộ, nên các quy tắc ở trên đều định tính. Nó không bàn luật sở hữu trí tuệ ở Việt Nam. Tôi chưa đọc các công trình sau 1986, nên không khẳng định khung xử lý nền tảng số ra sao.
Hỏi nhanh
Người đi đầu có luôn thua người theo sau không?
Không. Teece (1986) dựng khung để giải thích ai thắng, người đi đầu hay người theo sau, chứ không nói người đi đầu luôn thua. Một ví dụ ngược là NutraSweet của Searle: doanh số gộp với bản bán lẻ Equal tăng từ 74 triệu đô la Mỹ năm 1982 lên 336 triệu năm 1983, riêng NutraSweet vượt 700 triệu năm 1985 [@teece-1986, p. 299]. Ông gắn một phần thu nhập của Searle với chế độ bảo hộ chặt bất thường, dựa một phần vào bằng sáng chế và quy trình phê duyệt của FDA [@teece-1986, pp. 299-300].
Hợp tác với một công ty lớn có rủi ro gì cho người khởi nghiệp?
Phần tóm tắt rủi ro của Teece nêu hai điều. Đối tác có thể không làm đúng điều bạn hiểu từ hợp đồng, và họ có thể bắt chước công nghệ để cạnh tranh với bạn, nhất là khi họ đứng ở vị trí độc nhất với một tài sản bổ trợ còn bạn không bảo hộ được công nghệ [@teece-1986, p. 294]. Ví dụ trong bài gốc: Apple phải cam kết trả tiền cho một số động cơ máy photocopy của Canon thì Canon mới tham gia làm máy in LaserWriter [@teece-1986, p. 294].
Khung này có dùng được cho phần mềm hay dịch vụ không?
Các ví dụ trong bài của Teece chủ yếu là sản phẩm vật chất, còn phần mềm chỉ xuất hiện như tài sản bổ trợ trong trường hợp IBM PC. Tôi chưa đọc nguồn nào áp khung vào phần mềm. Phần tóm tắt của Jacobides, Knudsen và Augier (2006) cho biết họ mở rộng và điều chỉnh khung ban đầu [@jacobides-2006]. Cách thử thực tế: nếu trả lời được cả ba câu hỏi cho sản phẩm của mình thì khung còn dùng được; nếu một câu không có nghĩa, hãy ghi rõ đó là chỗ khung chưa phủ tới.
Tài liệu tham khảo
Xếp A–Z theo họ tác giả, kiểu Harvard. Nguồn có DOI thì link https://doi.org/…; nguồn không có DOI thì link trang nguồn hoặc ghi rõ không có DOI.
- Jacobides, M.G., Knudsen, T. and Augier, M. (2006) ‘Benefiting from innovation: value creation, value appropriation and the role of industry architectures’, Research Policy, 35(8), pp. 1200–1221.doi:10.1016/j.respol.2006.09.005Được trích trong 1 bài
- Teece, D.J. (1986) ‘Profiting from technological innovation: implications for integration, collaboration, licensing and public policy’, Research Policy, 15(6), pp. 285–305.doi:10.1016/0048-7333(86)90027-2Được trích trong 1 bài

Bài này có ích với bạn không?
Chưa có lượt chấm nào.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận, hãy là người đầu tiên.