Chiến lược & lãnh đạoĐăng 10 phút đọcCó bản English

Trí tuệ văn hoá cho nhà lãnh đạo: bốn năng lực CQ

Dành cho chủ doanh nghiệp hoặc quản lý sắp dẫn đội nhiều quốc tịch hay đàm phán với đối tác nước ngoài. Trí tuệ văn hoá (CQ) có bốn năng lực; bài hướng dẫn chọn năng lực nên rèn trước và nêu bằng chứng nói được gì.

Xem .mdLinkedIn

Bạn sắp ký đơn đầu tiên với một nhà phân phối nước ngoài, và quý sau đội có thêm ba người thuộc ba quốc tịch. Nên đọc thêm về văn hoá nước của đối tác, hay rèn một thứ khác? Trí tuệ văn hoá (CQ) trả lời vế thứ hai: thứ cần rèn là năng lực của chính bạn, không phải bảng đặc điểm của một dân tộc.

Trí tuệ văn hoá gồm bốn năng lực nào?

Ang và cộng sự định nghĩa CQ là năng lực của một cá nhân để vận hành và quản lý hiệu quả trong môi trường đa văn hoá. Khái niệm do Earley và Ang phát triển trong cuốn sách năm 2003 (Ang et al., 2007; Earley và Ang, 2003). Bốn phần của nó theo khung của Sternberg: ba năng lực nằm trong đầu, một năng lực là hành động bên ngoài (Ang et al., 2007).

Trí tuệ văn hoá (CQ)

Khi được giao dẫn dắt đội ngũ đa quốc gia hay làm việc với đối tác nước ngoài, nhà quản lý cần rèn những năng lực trí tuệ văn hoá (CQ) nào để thích ứng?

Trí tuệ văn hoá
Siêu nhận thức
Nhận thức
Động lực
Hành vi
Hình 1 · (vẽ lại theo Earley và Ang, 2003; Ang và cộng sự, 2007)Trang framework

Siêu nhận thức: lập kế hoạch, theo dõi và sửa mô hình trong đầu về chuẩn mực của một nhóm người, kể cả dám hỏi lại giả định của mình. Nhận thức: tri thức về thông lệ, hệ thống kinh tế, luật pháp và các khung giá trị văn hoá như của Hofstede. Động lực: dồn chú ý và sức lực vào việc học và làm việc khi có khác biệt văn hoá, dựa trên hứng thú thật và niềm tin mình làm được. Hành vi: dùng lời nói và hành động phi ngôn ngữ phù hợp (Ang et al., 2007).

Nên rèn năng lực nào trước?

Bảng dưới là bản tự kiểm của tôi. Nó không phải thang CQS 20 câu và không cho ra điểm; thang chính thức dùng ngoài nghiên cứu học thuật phải xin phép Cultural Intelligence Center (Ang et al., 2007).

Năng lực Câu hỏi tự kiểm Rèn trước nếu sắp phải Liên hệ dương với
Siêu nhận thức Lần họp gần nhất, mình có nói ra một giả định về đối tác và kiểm lại không? Đọc tín hiệu của đối tác Phán đoán liên văn hoá (Ang et al., 2007; Rockstuhl và Van Dyne, 2018)
Nhận thức Mình có biết đối tác ký, duyệt, thanh toán theo quy trình nào không? Soạn hợp đồng, kỳ thanh toán Phán đoán liên văn hoá (Rockstuhl và Van Dyne, 2018)
Động lực Sau một tuần mệt và hiểu lầm, mình còn muốn tiếp tục không? Sống và làm việc ở nước khác Thích nghi, sức khoẻ tinh thần (Rockstuhl và Van Dyne, 2018)
Hành vi Mình có đổi lời nói và cách phản hồi theo người đối diện không? Họp trực tiếp, phản hồi đội Hiệu quả công việc do người khác chấm (Ang et al., 2007; Rockstuhl và Van Dyne, 2018)

Ô nào bạn trả lời "chưa" là ứng viên. Nếu chưa ở nhiều ô, tôi chọn siêu nhận thức trước; đó là cách đọc của tôi, không phải kết luận của nguồn. Cơ sở: ở các mẫu có siêu nhận thức trung bình cao, hành vi liên hệ với thích nghi mạnh hơn hẳn (hệ số 0,30 so với 0,01 ở mẫu mức thấp), nhưng phần chung của CQ liên hệ với thích nghi yếu hơn (0,20 so với 0,61) (Rockstuhl và Van Dyne, 2018). Đó là so sánh giữa các mẫu, không phải giữa từng người, và các tác giả nói cấp cá nhân có thể khác, nên chỉ là gợi ý. Hợp nếu bạn chỉ có thời gian rèn một thứ; không hợp nếu cần điểm số để tuyển người.

Một đơn hàng bao bì với nhà phân phối nước ngoài: ví dụ giả định

Ví dụ hoàn toàn giả định: công ty, người và số liệu do tôi bịa. Tôi không nêu quốc tịch của đối tác để khỏi mời khuôn mẫu.

Bao bì Long Châu (tên bịa) là nhà máy hộp giấy ở Cần Thơ. Chị Linh, giám đốc kinh doanh, đề nghị nhà phân phối mới rút kỳ thanh toán từ 60 ngày xuống 45 ngày. Ông K., trưởng phòng mua của đối tác, đáp: "Chúng tôi sẽ xem xét." Chị ghi vào biên bản là đối tác đồng ý và lập dòng tiền theo 45 ngày. Hai tuần sau, đơn đầu tiên 400 triệu đồng được xác nhận với kỳ 60 ngày. Nếu đơn đều 400 triệu mỗi tháng, 15 ngày chênh nghĩa là 200 triệu đồng vốn lưu động bị giữ thêm (tính tháng 30 ngày): 800 triệu ở 60 ngày, 600 triệu ở 45 ngày.

"Chúng tôi sẽ xem xét" có thể là đồng ý, từ chối lịch sự hay chờ cấp trên duyệt. Chị Linh chọn nghĩa có lợi cho mình, và lỗi không nằm ở thiếu kiến thức về đất nước của ông K. Ang và cộng sự lập luận rằng người nhận ra khác biệt trong cách nghĩ thường diễn giải hành vi theo góc nhìn của người làm ra nó (Ang et al., 2007). Bốn việc dưới đây do tôi chọn để minh hoạ, không phải kết quả nghiên cứu:

  • Siêu nhận thức: viết ra giả định "xem xét là đồng ý" cùng hai nghĩa còn lại, và coi kỳ thanh toán là chưa chốt.
  • Nhận thức: hỏi ai bên đối tác có quyền duyệt kỳ thanh toán và quy trình duyệt mất bao lâu.
  • Động lực: sẵn sàng thêm một cuộc gọi thay vì coi vòng đàm phán là xong.
  • Hành vi: gửi email tóm tắt kèm câu hỏi trả lời bằng có hoặc không, và hỏi "cần thấy gì để chốt 45 ngày?".

CQ khác các chiều văn hoá quốc gia ở điểm nào?

CQ là năng lực của một người. Các chiều văn hoá GLOBE mô tả văn hoá của một xã hội. Hai thứ khác tầng; theo tôi, nhầm tầng dễ dẫn tới khuôn mẫu.

Bảng so sánh

Tiêu chíTrí tuệ văn hoá (CQ)Các chiều văn hoá GLOBE
Đo cái gìNăng lực của một cá nhân để làm việc hiệu quả giữa các nền văn hoáVăn hoá của một xã hội, theo các chiều như khoảng cách quyền lực
Đơn vịMột ngườiMột xã hội, từ khảo sát hơn 17.000 quản lý cấp trung
Dùng đểChọn năng lực để rènĐặt giả thuyết về khác biệt giữa các xã hội, rồi kiểm lại với người thật
Hình 2 · Bảng do tôi tổng hợp từ các nguồn trong phần tham khảo.

GLOBE là chương trình nghiên cứu mười năm của 160 học giả, từ năm 1994: khảo sát hơn 17.000 quản lý cấp trung ở ba ngành tại 62 nền văn hoá, với các chiều như khoảng cách quyền lực (House et al., 2004). Ang và cộng sự xếp tri thức về khung giá trị văn hoá vào phần nhận thức của CQ (Ang et al., 2007). Theo cách đọc của tôi, kết quả GLOBE là nguyên liệu cho nhận thức, không thay được cả bốn năng lực.

Li và cộng sự hỏi liệu văn hoá quốc gia có đi kèm khác biệt trong quan hệ giữa phong cách lãnh đạo và sự gắn kết của nhân viên. Họ tổng hợp 209 nghiên cứu, 82.386 người, 45 nước, gán điểm GLOBE theo nước nơi khảo sát diễn ra vì nghiên cứu gốc thường không đo văn hoá. Trong 56 phép kiểm, 10 phép có ý nghĩa thống kê, và một số đi ngược dự đoán của chính họ: lãnh đạo chuyển đổi liên hệ với gắn kết mạnh hơn ở nước điểm bình đẳng giới thấp (0,50) so với nước điểm cao (0,32), tức một độ lệch chuẩn dưới và trên trung bình. Bài đo gắn kết nhân viên, không đo đàm phán, và 79% nghiên cứu là cắt ngang nên không kết luận được nhân quả (Li et al., 2021). Khái niệm liên quan: khác biệt quốc gia trong tác động của lãnh đạo.

CQ dự báo gì, và chưa nói gì?

Ang và cộng sự thử mô hình ở ba nghiên cứu với 794 người ở Mỹ và Singapore: siêu nhận thức và nhận thức dự báo phán đoán liên văn hoá; động lực và hành vi dự báo thích nghi; siêu nhận thức và hành vi dự báo hiệu quả công việc (Ang et al., 2007). Rockstuhl và Van Dyne kiểm lại với 199 mẫu, 44.155 người, và thêm kết quả do người khác chấm để tránh sai lệch do cùng một nguồn đánh giá. Họ thấy:

  • Phán đoán: siêu nhận thức (hệ số 0,18) và nhận thức (0,12) dự báo; động lực và hành vi gần bằng không.
  • Thích nghi: động lực dự báo (0,28 với thích nghi xã hội và văn hoá, 0,26 với sức khoẻ tinh thần); hành vi không có ý nghĩa thống kê, trái với dự đoán của Ang.
  • Hiệu quả công việc do người khác chấm: hành vi (0,28) và siêu nhận thức (0,11) dương; nhận thức âm (-0,10) khi đã kiểm soát phần chung và ba năng lực kia, dù tương quan đơn giản là dương, và các tác giả gọi đó là bất ngờ (Rockstuhl và Van Dyne, 2018).

Phần chung của bốn năng lực có hệ số dương với cả bảy kết quả; riêng hiệu suất thích ứng, bốn năng lực riêng không thêm gì (Rockstuhl và Van Dyne, 2018).

Bằng chứng chưa nói gì? Cả hai bài báo cáo liên hệ thống kê; tôi không thấy thử nghiệm cho thấy rèn CQ cải thiện kết quả. Ang và cộng sự lấy mẫu ở Mỹ và Singapore và ghi cần thử thêm ở châu Âu, châu Phi, Mỹ Latinh và Trung Đông (Ang et al., 2007); trong phần tôi đọc, không bài nào báo cáo riêng cho người Việt. Thang CQS là bảng tự đánh giá, nên điểm phản ánh cả cách một người nhìn mình (suy luận của tôi từ hướng dẫn làm bài) (Ang et al., 2007). Kết quả giữa các nghiên cứu khác nhau đáng kể, nên điều kiện biên của CQ chưa rõ (Rockstuhl và Van Dyne, 2018).

Đào sâu: CQ từ đâu ra và bị phê bình ở điểm nào?

Về cuốn sách năm 2003 của Earley và Ang, tôi chỉ đọc phần mô tả của một nhà bán sách; phần đó nói sách phát triển CQ qua ba mặt: nhận thức (nhận ra mẫu hình từ tín hiệu văn hoá), động lực và hành vi (Earley và Ang, 2003). Ang và cộng sự gán mô hình bốn chiều, kể cả siêu nhận thức, cho Earley và Ang (Ang et al., 2007). Rockstuhl và Van Dyne ghi Ang và cộng sự (2007) phác ra mô hình bốn yếu tố, và dẫn Earley và Ang (2003) cho nền tảng Sternberg của nó (Rockstuhl và Van Dyne, 2018). Tôi không thể nói siêu nhận thức nằm ở đâu trong sách; bài này theo cách Ang và cộng sự trình bày. Thang CQS có 20 câu, kiểm chứng ở Singapore và Mỹ (Ang et al., 2007).

  • Một yếu tố hay bốn? Rockstuhl và Van Dyne đề nghị mô hình song nhân tố (bi-factor): một yếu tố chung cộng bốn năng lực riêng. Mô hình này khớp dữ liệu hơn mô hình một yếu tố ở sáu trong bảy kết quả (Rockstuhl và Van Dyne, 2018).
  • Chưa lặp lại trọn vẹn. Nghiên cứu trước 2018 chưa tái lập được bằng chứng ban đầu của Ang rằng bốn năng lực dự báo các kết quả khác nhau; tổng hợp của Rockstuhl và Van Dyne ủng hộ một phần, lệch ở hành vi với thích nghi (Rockstuhl và Van Dyne, 2018).

Hỏi nhanh

Trí tuệ văn hoá khác trí tuệ cảm xúc ở đâu?

Ang và cộng sự mô tả trí tuệ cảm xúc là khả năng nhận biết và điều chỉnh cảm xúc nói chung, không xét bối cảnh văn hoá. CQ nhắm riêng vào tình huống đa văn hoá, vì tín hiệu cảm xúc hình thành trong từng nền văn hoá nên khả năng đọc chúng ở nơi quen không tự động chuyển sang nơi lạ [@ang-2007]. Trong dữ liệu của họ, hai khái niệm tương quan vừa phải nhưng vẫn tách biệt [@ang-2007].

CQ có rèn được không?

Ang và cộng sự mô tả CQ là nhóm năng lực tương đối dễ biến đổi và có thể nâng lên theo thời gian, và dẫn một công trình khác cho ý này [@ang-2007]. Tôi không đọc nghiên cứu đào tạo nào nên không biết rèn bao lâu thì đổi được kết quả. Trong phần tôi đọc, hai bài báo cáo liên hệ thống kê, không báo cáo thử nghiệm rèn luyện [@ang-2007; @rockstuhl-2018].

Có cần học kỹ văn hoá từng nước trước khi gặp đối tác không?

Tri thức văn hoá là một phần của CQ và liên hệ dương với phán đoán liên văn hoá [@rockstuhl-2018]. Nhưng khi so các mẫu theo mức siêu nhận thức trung bình, ở mẫu mức thấp tri thức liên hệ âm với hiệu quả công việc do người khác chấm (hệ số -0,28, khi giữ phần chung và ba năng lực kia không đổi), còn ở mẫu mức cao hệ số gần bằng không [@rockstuhl-2018]. Học kèm thói quen kiểm lại điều mình biết: đây là gợi ý của tôi, không phải kết quả nghiên cứu.

Có dùng điểm GLOBE của nước đối tác để đoán một người cụ thể không?

Không nên coi điểm GLOBE là dự đoán cho một người. Điểm này mô tả văn hoá của một xã hội [@house-2004]. Meta-analysis của Li và cộng sự xét lãnh đạo và sự gắn kết của nhân viên, không xét đàm phán: 10 trong 56 phép kiểm cho thấy văn hoá quốc gia đi kèm khác biệt, và một số kết quả đi ngược dự đoán của tác giả [@li-2021]. Tôi coi điểm quốc gia là giả thuyết để hỏi rồi kiểm với người thật; đó là gợi ý của tôi, không phải khuyến nghị của nguồn.

Tài liệu tham khảo

Xếp A–Z theo họ tác giả, kiểu Harvard. Nguồn có DOI thì link https://doi.org/…; nguồn không có DOI thì link trang nguồn hoặc ghi rõ không có DOI.

  1. Ang, S. et al. (2007) ‘Cultural intelligence: its measurement and effects on cultural judgment and decision making, cultural adaptation and task performance’, Management and Organization Review, 3(3), pp. 335–371.doi:10.1111/j.1740-8784.2007.00082.xĐược trích trong 1 bài
  2. Earley, P.C. and Ang, S. (2003) Cultural intelligence: individual interactions across cultures. Stanford, CA: Stanford University Press.Không có DOIĐược trích trong 1 bài
  3. House, R.J. et al. (2004) Culture, leadership, and organizations: the GLOBE study of 62 societies. Thousand Oaks, CA: SAGE.Không có DOIĐược trích trong 1 bài
  4. Li, P. et al. (2021) ‘Country differences in the relationship between leadership and employee engagement: a meta-analysis’, The Leadership Quarterly, 32(1), article 101458.doi:10.1016/j.leaqua.2020.101458Được trích trong 2 bài
  5. Rockstuhl, T. and Van Dyne, L. (2018) ‘A bi-factor theory of the four-factor model of cultural intelligence: meta-analysis and theoretical extensions’, Organizational Behavior and Human Decision Processes, 148, pp. 124–144.doi:10.1016/j.obhdp.2018.07.005Được trích trong 1 bài
Đọc tiếp

Bài liên quan

Tất cả bài viết

Bài này có ích với bạn không?

Chấm điểm bài viết từ 1 đến 5 sao

Chưa có lượt chấm nào.

Bình luận (0)

Chưa có bình luận, hãy là người đầu tiên.

Viết bình luận

Bình luận được kiểm duyệt trước khi hiện. Có thể mất vài giờ.