Chiến lược & lãnh đạoĐăng 10 phút đọcCó bản English

Walmart ở Đức: mua lại cho nhanh, rồi rút sau tám năm rưỡi

Dành cho chủ doanh nghiệp đang cân nhắc mua một chuỗi hay cơ sở sẵn có ở nước ngoài. Walmart vào Đức năm 1998 bằng mua lại và rút năm 2006 với khoản xoá sổ khoảng 1 tỷ USD; bài đối chiếu ca này với các phương thức thâm nhập và gánh nặng của người ngoài.

Xem .mdLinkedIn

Một siêu thị khổng lồ của Mỹ vào thị trường mà New York Times gọi là thị trường bán lẻ lớn thứ ba thế giới (The New York Times, 2006), ở lại tám năm rưỡi, rồi bán 85 cửa hàng và ghi nhận khoản xoá sổ khoảng 1 tỷ USD. Nếu bạn đang cân nhắc mua vài cơ sở có sẵn ở nước ngoài để vào nhanh, ca này đáng xem kỹ. Bài đặt nó cạnh các phương thức thâm nhập và ba gánh nặng của doanh nghiệp quốc tế non trẻ, để thấy cái gì giải thích được và cái gì không.

Điều gì đã xảy ra ngày 28/7/2006?

Walmart công bố bán toàn bộ 85 cửa hàng ở Đức cho Metro Group. Bài của New York Times mở đầu bằng việc Walmart thừa nhận thất bại ở thị trường bán lẻ khổng lồ nhưng cạnh tranh gay gắt của Đức, và nói đây là bước lùi rõ rệt khỏi đà mở rộng toàn cầu, hai tháng sau khi Walmart bán cửa hàng ở Hàn Quốc (The New York Times, 2006). Hai bên không công bố điều khoản tài chính. Walmart nói sẽ ghi nhận khoản xoá sổ trước thuế khoảng 1 tỷ USD cho khoản đầu tư ở Đức (The New York Times, 2006).

Metro nói sẽ nhập 85 cửa hàng vào chuỗi Real; bài báo nêu Real có 550 siêu thị và đại siêu thị, và mô tả Real lớn hơn chuỗi của Walmart nhưng cũng đang gặp khó. Theo Metro, các cửa hàng của Walmart ở Đức có 11.000 nhân viên và doanh thu 2 tỷ euro mỗi năm (The New York Times, 2006). Walmart không tách kết quả theo nước. Theo ước tính của các nhà phân tích, công ty thua lỗ trong phần lớn tám năm rưỡi ở Đức, có năm hàng trăm triệu USD (The New York Times, 2006). Đó là ước tính bên ngoài, không phải số liệu công bố.

Walmart vào Đức bằng cách nào, và cách đó để lại gì?

Walmart vào Đức năm 1998 bằng cách mua cửa hàng của hai chuỗi hạng hai là Wertkauf và Interspar. Các nhà phân tích nói với New York Times rằng việc này để lại cho Walmart một mạng lưới hỗn tạp, phân tán về địa lý và thường ở vị trí kém (The New York Times, 2006). Trong bảng tóm tắt framework của site, theo cách tôi phân loại, ca này gần nhất với công ty con sở hữu toàn bộ, vào bằng mua lại: kiểm soát cao, vốn cam kết cao, rủi ro vốn cao, tốc độ nhanh Các hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài.

Các hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài

Chủ doanh nghiệp sắp đưa sản phẩm ra nước ngoài nên chọn xuất khẩu, cấp phép, liên doanh hay đầu tư trực tiếp để cân bằng kiểm soát, vốn cam kết và rủi ro?

Tiêu chíXuất khẩuCấp phépNhượng quyềnLiên doanhCông ty con sở hữu toàn bộ
Kiểm soátThấpThấpTrung bìnhTrung bình (chia sẻ)Cao
Vốn và cam kếtThấpThấpThấp–trung bìnhTrung bìnhCao
Rủi ro vốnThấpThấpThấpTrung bìnhCao
Tốc độ vào thị trườngNhanhNhanhNhanhTrung bìnhChậm (xây mới) hoặc nhanh (mua lại)
Hình 1 · (vẽ lại theo framework trong thư viện của site)Trang framework

Tốc độ là thứ Walmart mua được. Cái đi kèm là địa điểm của người bán. Bảng này nói công ty con sở hữu toàn bộ chậm nếu xây mới và nhanh nếu mua lại; nó không nói mua lại chọn được vị trí. Theo cách tôi đọc, đó là điểm yếu của lựa chọn này trong ca Walmart.

Johanson và Vahlne (1977) lưu ý rằng cách nhanh nhất để có kinh nghiệm thị trường là thuê nhân viên của đại diện hoặc mua toàn bộ hay một phần công ty của họ, nhưng nhiều khi kinh nghiệm đó không có để bán (Johanson và Vahlne, 1977, p. 29). Wertkauf và Interspar có chuyển được kinh nghiệm cho Walmart hay không, các nguồn tôi đọc không nói. Bài cũng không biết xây mới hay liên doanh có cho kết quả tốt hơn hay không.

Gánh nặng nào của "người ngoài" áp vào Walmart?

Theo cách tôi đọc, chỉ gánh nặng ngoại lai áp vào ca này. Khung ba gánh nặng gồm mới, nhỏ và ngoại lai, và được xây cho doanh nghiệp trẻ có nguồn lực mỏng. Walmart là nhà bán lẻ lớn nhất thế giới theo bài báo, không mới cũng không nhỏ. Còn gánh nặng ngoại lai là bất lợi của người ngoài so với công ty bản địa, như rào cản thương mại và hiểu chưa đủ về luật, ngôn ngữ, cách làm kinh doanh (Oviatt và McDougall, 1994, p. 55).

Dunning (1988), khi trình bày lại mô hình chiết trung, nói lợi thế sở hữu của công ty phải đủ bù chi phí dựng và vận hành một cơ sở ở nước ngoài, cộng thêm các chi phí mà nhà sản xuất địa phương phải chịu (Dunning, 1988, p. 2). Ca Walmart gợi ý rằng một lợi thế có ở nhà không tự động thành lợi thế ở nước khác. Theo New York Times, quy mô cho Walmart sức mua lớn với quần áo và hàng hoá khác, nhưng công ty phải mua phần lớn thực phẩm tại chỗ, nơi Aldi, với 4.100 cửa hàng, mạnh hơn hẳn (The New York Times, 2006). Một nhà phân tích nói Đức là quê hương của hàng giảm giá và Walmart không cạnh tranh bằng giá, thuộc tính chính của họ ở nhà (The New York Times, 2006).

Bảng dưới ghép bốn nguyên nhân hay gặp trong phần tóm tắt của Yoder và cộng sự với chi tiết trong bài báo. Cách ghép là của tôi, và các nhận định đến từ phóng viên cùng nhà phân tích mà báo trích, không phải số đo.

Nguyên nhân hay gặp (Yoder và cộng sự, 2016) Điều New York Times ghi về Walmart ở Đức
Hiểu sai đặc điểm mua sắm của khách Khách Đức tự đóng gói hàng, nên lời đề nghị đóng gói giúp là sai; nhân viên được dặn cười với khách, trong khi khách quen phục vụ cộc lốc thấy khó chịu. Người Đức tiết kiệm, nhạy giá, tỷ trọng chi bán lẻ trong thu nhập vẫn giảm
Đánh giá thấp đối thủ địa phương Aldi và Lidl thống trị tạp hoá bằng cửa hàng nhỏ giá thấp; Aldi còn kéo khách quay lại bằng đợt khuyến mãi hằng tuần
Chuỗi cung ứng Sức mua lớn với hàng may mặc, nhưng thực phẩm phải mua tại chỗ, nơi Aldi có thế mạnh hơn
Địa điểm và tốc độ mở rộng Hai chuỗi hạng hai, cửa hàng phân tán, nhiều vị trí kém

Walmart có sửa, và sửa có muộn không?

Có, dù một nhà phân tích cho rằng đã muộn. Theo New York Times, ban đầu Walmart đặt quản lý người Mỹ, những người mắc các sai sót văn hoá có thiện chí như trên. Sau đó công ty dùng quản lý Đức, rồi bổ nhiệm David Wild, cựu giám đốc Tesco, người cố thu hút khách bằng thịt và rau hữu cơ (The New York Times, 2006). Nhà phân tích James Bacos nói họ nhận ra mình còn nhiều điều phải học và đã thay đổi, nhưng có thể đã muộn. Ông cũng nói Walmart đã bước vào một "triple-witching hour" ở Đức, tức đúng lúc cả thị trường đang rời xa mô hình của họ (The New York Times, 2006).

Đó là một nhà phân tích nhận xét sau sự việc. Bài không có dữ liệu cho thấy bước nào trong ba bước điều hành tác động bao nhiêu lên doanh thu từng cửa hàng.

Trước khi mua một chuỗi ở nước ngoài, nên kiểm gì?

Đặt năm câu hỏi trước khi ký, mỗi câu rút từ một tín hiệu trong ca Walmart, và viết sẵn mức lỗ bạn sẽ chịu. Ví dụ dưới đây hoàn toàn giả định: "Tiệm Bánh Ngõ Nhỏ" và chuỗi cần mua ở Phnom Penh do tôi bịa.

Giả sử Tiệm Bánh Ngõ Nhỏ có 12 tiệm ở TP.HCM và định mua một chuỗi 8 tiệm ở Phnom Penh để vào nhanh.

Tín hiệu từ ca Walmart Câu hỏi trước khi mua Bằng chứng nên đòi
Cửa hàng phân tán, vị trí kém 8 tiệm có nằm ở nơi khách của bạn thật sự đi qua không? Doanh thu và lượt khách từng tiệm, thời hạn thuê còn lại
Đối thủ địa phương dùng giá và khuyến mãi Đối thủ rẻ nhất là ai, có bao nhiêu điểm bán? Bảng giá và vị trí đối thủ trong bán kính từng tiệm
Lợi thế ở nhà không chuyển sang Lợi thế của bạn (giá thấp nhờ sức mua, công thức) có còn khi nguyên liệu mua tại chỗ? Giá nguyên liệu tại chỗ so với giá bạn đang trả
Quản lý Mỹ mắc lỗi văn hoá Ai điều hành, họ có hiểu khách địa phương không? Hồ sơ quản lý hiện có, kế hoạch giữ họ
Nhà phân tích nói công ty lỗ trong phần lớn tám năm rưỡi trước khi rút Bạn chịu lỗ bao lâu rồi dừng? Mức lỗ và mốc thời gian ghi trước bằng văn bản

Cách này hợp nếu bạn mua được cơ sở có số liệu doanh thu từng điểm và có người địa phương ở lại. Nó không hợp nếu chuỗi mục tiêu chỉ là hợp đồng thuê rẻ và số liệu mù mờ: khi đó mua lại cho tốc độ nghĩa là mua cả vấn đề của người bán. Năm câu hỏi là suy luận của tôi từ ca Walmart, chưa kiểm bằng dữ liệu về doanh nghiệp Việt.

Đào sâu: nguồn nào cho biết gì, và chưa kiểm được gì?

Toàn bộ chi tiết về Walmart trong bài đến từ một bài báo, nên nó mang góc nhìn của báo chí Mỹ năm 2006 và của các nhà phân tích được trích. Tôi đọc bài New York Times qua bản lưu của phiên bản in ngày 29/7/2006, tiêu đề "Wal-Mart to Abandon Germany", tác giả Mark Landler, vì trang ngày 28/7 trong thư viện chặn truy cập tự động. Tôi không mở được trang ngày 28/7, nên mọi chi tiết về Walmart ở đây dựa trên bản in.

Tôi chỉ có phần tóm tắt của Yoder, Visich và Rustambekov (2016), nên không biết họ phân tích Walmart cụ thể ra sao. Tôi cũng chưa kiểm báo cáo của chính Walmart hay Metro, và chưa đọc nghiên cứu học thuật nào khác về ca này. Khung ba gánh nặng và bảng phương thức lấy từ bản tóm tắt framework trong thư viện, không từ các giáo trình gốc.

Bài này không chứng minh rằng mua lại là lý do thất bại. Nó chỉ cho thấy một ca có tài liệu, trong đó tốc độ mua được đi cùng một mạng lưới địa điểm mà nhà phân tích đánh giá kém.

Hỏi nhanh

Walmart mất bao nhiêu khi rút khỏi Đức?

Theo New York Times, Walmart cho biết sẽ ghi nhận khoản xoá sổ trước thuế khoảng 1 tỷ USD cho khoản đầu tư vào Đức trong quý II năm tài chính 2007; điều khoản bán không được công bố [@nyt-2006]. Walmart không tách kết quả theo nước, nên số lỗ hằng năm chỉ là ước tính của các nhà phân tích, có khi hàng trăm triệu USD mỗi năm [@nyt-2006].

Vì sao Walmart thất bại ở Đức?

New York Times dẫn các nhà phân tích nói về cạnh tranh giá không ngừng từ các chuỗi giảm giá lâu đời, sự kháng cự văn hoá của người mua Đức với đại siêu thị và mạng lưới cửa hàng phân tán; bài báo cũng ghi lại những sai sót văn hoá ban đầu của quản lý người Mỹ và thế thống trị của Aldi và Lidl trong ngành tạp hoá [@nyt-2006]. Quan điểm của các nhà phân tích là ý kiến, không phải đo lường độc lập về từng nguyên nhân. Yoder, Visich và Rustambekov (2016) nêu nguyên nhân chung gồm hiểu sai khách, đánh giá thấp đối thủ địa phương, chuỗi cung ứng và quyết định địa điểm [@yoder-2016].

Walmart có từng thay đổi cách làm ở Đức không?

Có. Theo New York Times, ban đầu Walmart đặt quản lý người Mỹ, sau dùng quản lý Đức, rồi bổ nhiệm David Wild, cựu giám đốc Tesco, người cố thu hút khách bằng thịt và rau hữu cơ; một nhà phân tích nhận xét họ đã thay đổi nhưng có thể quá muộn [@nyt-2006].

Mua lại có phải cách thâm nhập tốt nhất cho doanh nghiệp nhỏ không?

Không có cách tốt nhất chung cho mọi trường hợp. Bản tóm tắt framework của site xếp công ty con sở hữu toàn bộ ở mức kiểm soát cao, vốn cam kết cao và rủi ro vốn cao, chậm nếu xây mới và nhanh nếu mua lại [[fw:market-entry-modes]]. Ca Walmart cho thấy tốc độ không bảo đảm địa điểm tốt [@nyt-2006]. Với doanh nghiệp nhỏ, câu hỏi cần trả lời trước là mức lỗ bạn chịu được trong bao lâu.

Tài liệu tham khảo

Xếp A–Z theo họ tác giả, kiểu Harvard. Nguồn có DOI thì link https://doi.org/…; nguồn không có DOI thì link trang nguồn hoặc ghi rõ không có DOI.

  1. Dunning, J.H. (1988) ‘The eclectic paradigm of international production: a restatement and some possible extensions’, Journal of International Business Studies, 19(1), pp. 1–31.doi:10.1057/palgrave.jibs.8490372Được trích trong 4 bài
  2. Johanson, J. and Vahlne, J.-E. (1977) ‘The internationalization process of the firm: a model of knowledge development and increasing foreign market commitments’, Journal of International Business Studies, 8(1), pp. 23–32.doi:10.1057/palgrave.jibs.8490676Được trích trong 5 bài
  3. Oviatt, B.M. and McDougall, P.P. (1994) ‘Toward a theory of international new ventures’, Journal of International Business Studies, 25(1), pp. 45–64.doi:10.1057/palgrave.jibs.8490193Được trích trong 3 bài
  4. The New York Times (2006) Wal-Mart decides to pull out of Germany (28 July).Không có DOInytimes.comĐược trích trong 2 bài
  5. Yoder, S., Visich, J.K. and Rustambekov, E. (2016) ‘Lessons learned from international expansion failures and successes’, Business Horizons, 59, pp. 233–243.doi:10.1016/j.bushor.2015.11.008Được trích trong 2 bài
Đọc tiếp

Bài liên quan

Tất cả bài viết

Bài này có ích với bạn không?

Chấm điểm bài viết từ 1 đến 5 sao

Chưa có lượt chấm nào.

Bình luận (0)

Chưa có bình luận, hãy là người đầu tiên.

Viết bình luận

Bình luận được kiểm duyệt trước khi hiện. Có thể mất vài giờ.