Framework

Tiếp cận thất bại thị trường

Câu hỏi nó trả lời

Theo đuổi lợi nhuận hợp đạo đức đến đâu, và chiến lược nào bị cấm vì phá hiệu quả mà lợi nhuận được dùng để biện minh?

Xuất xứ
Heath, 2014; Heath, 2006
Loại sơ đồ
Sơ đồ trung tâm
Cấp độ phân tích
Doanh nghiệp
Cán cân đất sét với hai đĩa kính cân bằng, biểu tượng đạo đức doanh nghiệp

Sơ đồ

Tiếp cận thất bại thị trường

Thị trường hiệu quả Pareto
Cạnh tranh: không cản trở gia nhập, không thao túng giá
Thông tin đối xứng: không quảng cáo gây hiểu lầm, không giấu rủi ro
Không ngoại tác: không đẩy chi phí cho bên thứ ba
Hàng hoá công: không dựa vào hạ tầng xã hội mà không đóng góp
Phán đoán theo ngữ cảnh: sửa một thất bại riêng lẻ chưa chắc cải thiện hiệu quả chung

Khi nào dùng, khi nào không

Nên dùng khi

Liệt kê chiến lược lợi nhuận hiện tại, gắn từng cái vào một trong bốn điều kiện; cái nào khai thác vi phạm thì bỏ.

Cạm bẫy

Cạm bẫy

Dùng MFA để biện minh mọi chi phí tuân thủ; quên rằng Heath không đặt nghĩa vụ trực tiếp với mọi bên liên quan.

Nguồn

Tài liệu tham khảo

Xếp A–Z theo họ tác giả, kiểu Harvard. Nguồn có DOI thì link https://doi.org/…; nguồn không có DOI thì link trang nguồn hoặc ghi rõ không có DOI.

  1. Acharya, V.V. et al. (2011) Market failures and regulatory failures: lessons from past and present financial crises. Tokyo: Asian Development Bank Institute (ADBI Working Paper 264).Không có DOIadb.orgTrang nguồn
  2. Heath, J. (2006) ‘Business ethics without stakeholders’, Business Ethics Quarterly, 16(4), pp. 533–557.doi:10.5840/beq200616448Trang nguồn
  3. Heath, J. (2014) Morality, competition, and the firm: the market failures approach to business ethics. New York: Oxford University Press.doi:10.1093/acprof:osobl/9780199990481.001.0001Trang nguồn
  4. Lipsey, R.G. and Lancaster, K. (1956) ‘The general theory of second best’, The Review of Economic Studies, 24(1), pp. 11–32.doi:10.2307/2296233Trang nguồn
  5. Tarr, D.G. (2010) ‘The political, regulatory, and market failures that caused the US financial crisis: what are the lessons?’, Journal of Financial Economic Policy, 2(2), pp. 163–186.doi:10.1108/17576381011070210Trang nguồn