Khi chính phủ đổi luật sau khi bạn đã rót vốn
Dành cho chủ doanh nghiệp đang cân nhắc đặt nhà máy hay dự án ở nước ngoài cùng một đối tác địa phương. Bài đọc lý thuyết thương lượng suy giảm của Vernon và nghiên cứu tám tập đoàn ở Mỹ Latin, rồi đề xuất danh sách cần kiểm trước khi rót vốn.
Năm 2008, sau khi Venezuela công bố quốc hữu hoá công ty con của Cemex, quan chức chính phủ vào văn phòng công ty cùng quân đội (Moschieri et al., 2024, p. 641). Bốn năm sau hai bên thoả thuận ngoài toà: chính phủ trả 600 triệu USD, bằng nửa khoản Cemex đòi. Ở Argentina, Vivendi nhận phán quyết 105 triệu USD trên khoản đòi 317 triệu, và chính phủ không trả cho tới năm 2013 (Moschieri et al., 2024, p. 640). Nếu bạn định đặt nhà máy ở nước ngoài, hai câu hỏi đáng hỏi trước: quyền thương lượng của bạn ra sao khi tiền đã nằm lại, và đối tác địa phương có che chắn cho bạn không. Bài này đọc thương lượng suy giảm cùng tám tập đoàn kiện chính phủ Mỹ Latin, rồi đưa ra danh sách kiểm cho doanh nghiệp Việt cỡ vừa.
Thương lượng suy giảm nói gì, và áp vào loại tài sản nào?
Nó nói quyền thương lượng của nhà đầu tư mạnh nhất trước khi rót vốn, rồi yếu dần khi vốn đã chìm. Theo Moschieri và cộng sự, Vernon (1971) coi quan hệ tập đoàn và chính quyền là một cuộc thương lượng: lúc đầu chính phủ có thể cho giảm thuế, trợ cấp, quy định thuận lợi vì kỳ vọng vốn, công nghệ, việc làm; sau khi đầu tư tốn kém đã xong và công nghệ lan sang đối thủ địa phương, chính phủ đánh giá lại (Vernon, 1971; Moschieri et al., 2024, p. 629).
Họ có thể đổi quy định ngành, sửa hoặc rút giấy phép, chỉnh thuế và giá để chuyển lợi ích sang bên khác. Nghiên cứu gọi đó là tước đoạt âm thầm. Họ cũng có thể tước thẳng tài sản. Dù có bồi thường, các tập đoàn thường thấy khoản đó không phản ánh đủ thiệt hại (Moschieri et al., 2024, p. 630).
Mô hình thương lượng suy giảm của MNE với nước chủ nhà
Khi ban lãnh đạo tập đoàn đa quốc gia sắp rót vốn vào nhà máy hay mỏ ở nước ngoài, quyền thương lượng với chính phủ sở tại sẽ suy giảm thế nào sau khi tài sản đã nằm lại đó?
- Khi vào thị trường
- MNE mang vốn, công nghệ, kiến thức nên có thế mạnh
- Sau khi đầu tư
- Tài sản cố định đã chìm, tri thức lan sang đối thủ địa phương
- Chính phủ tìm cách thương lượng lại điều khoản
- Khi leo thang
- Tranh chấp pháp lý hoặc tước đoạt một phần hay toàn bộ
- Doanh nghiệp ở lại với quy mô thu hẹp hoặc rời đi
Không phải ngành nào cũng chịu như nhau. Theo phần tổng quan trong bài, ở sản xuất và công nghệ cao nhà đầu tư thường giữ quyền thương lượng; ở khai thác tài nguyên, hạ tầng lớn và dịch vụ thiết yếu như viễn thông, nước, điện, khí, quyền ấy mòn nhanh hơn vì rời đi tốn kém hơn (Moschieri et al., 2024, p. 630). Nhóm tác giả chọn ngành mà vốn chìm khiến mọi công ty rút đi đều tốn kém (Moschieri et al., 2024, p. 633); hai trong tám ca là viễn thông.
Tám tập đoàn ở Mỹ Latin: ai ở lại, ai ra đi, ai nhận bao nhiêu?
ICSID, thiết chế của Ngân hàng Thế giới xử tranh chấp đầu tư, ghi 352 vụ trên thế giới trong 2001–2012. Nhóm tác giả lọc còn 30 vụ ở Mỹ Latin, ngành vốn chìm, không có yếu tố nội tại như gian lận; chỉ tám công ty cho tiếp cận đủ sâu (Moschieri et al., 2024, p. 633). Bảng dưới tóm từ Bảng II và III của bài, tính bằng triệu USD; "đòi" là mức tập đoàn nêu (Moschieri et al., 2024, pp. 639-646, 657).
| Tập đoàn (nước) | Cấu trúc địa phương | Đòi → nhận | Sau đó |
|---|---|---|---|
| Telecom Italia (Bolivia) | liên doanh, giữ 50% | 961,6 → 50 | rút khỏi nước |
| Iberdrola (Guatemala) | liên danh, giữ 49% | ICSID xử nhà nước thắng, 2009 | rút khỏi nước |
| Vivendi (Argentina) | liên doanh, giữ 36% | 317 → 105, trả năm 2013 | rút khỏi nước |
| Endesa (Argentina) | liên doanh, 66%; có quan hệ trực tiếp với các thành phố | 1.307 → không công bố | ở lại thêm năm năm |
| Cemex (Venezuela) | 70%, phần còn lại ở khoảng 6.000 cổ đông thiểu số | 1.200 → 600 | giữ vài khoản nhỏ |
| Telefónica (Argentina) | sở hữu toàn bộ | 2.800 → không công bố | ở lại, hứa đầu tư thêm |
| Repsol (Argentina) | nâng dần lên 97% YPF; năm 2012 bị tước 51% | 10.500 → khoảng một nửa | bán nốt phần còn lại, 2015 |
| Shell (Nicaragua) | sở hữu toàn bộ | thoả thuận bí mật | ở lại |
Hai nhóm hiện ra. Telecom Italia, Iberdrola, Vivendi và Endesa ở giai đoạn đầu đi theo một đường: tiếp cận thông tin hẹp, phản ứng muộn, ít người ủng hộ khi thù địch lộ rõ. Bốn tập đoàn kia báo động sớm, thu thập rộng và huy động được ủng hộ trong lẫn ngoài nước (Moschieri et al., 2024, p. 637).
Vì sao dựa vào đối tác địa phương lại làm chậm cảnh báo?
Vì tập đoàn giao luôn việc quét và diễn giải thông tin cho đối tác, trong khi thông tin từ đối tác đến chậm, có thể bị lọc, và lợi ích của đối tác không trùng với lợi ích của họ (Moschieri et al., 2024, pp. 650, 662). Moschieri và cộng sự gọi hệ quả này là bất lợi của "người trong cuộc" (Moschieri et al., 2024, p. 627).
Gắn kết trực tiếp và gắn kết qua trung gian
Khi chính quyền nước sở tại bắt đầu tỏ thái độ thù địch, ban lãnh đạo công ty đa quốc gia nên tự gắn kết với các bên phi thị trường ở địa phương hay đi qua trung gian để kịp nhận ra và phản ứng?
| Tiêu chí | Gắn kết trực tiếp | Gắn kết qua đối tác địa phương |
|---|---|---|
| Cách kết nối | Trực tiếp với nhiều bên phi thị trường | Chủ yếu qua đối tác địa phương |
| Hệ quả theo nghiên cứu | Thu thập và diễn giải thông tin tốt hơn, huy động được ủng hộ | Có thể sinh "bất lợi của người trong cuộc", chậm cảnh giác |
Một giám đốc ẩn danh của Telecom Italia nhìn lại: "We were myopic. We delegated and we should have intervened in first person." Ông nói thêm: "When there is no partnership, you have a better understanding of what happens." Ông ngờ đối tác địa phương biết mà không nói, nhưng nhấn mạnh đó chỉ là ấn tượng (Moschieri et al., 2024, p. 653). Ở Vivendi, một quản lý kể hai đối tác Roggio và Dycasa "didn't help. They had their own, different agendas" (Moschieri et al., 2024, pp. 656-657). Các tác giả không nói đối tác nào cũng toan tính: công ty địa phương không thể chuyển đi hay nhờ trọng tài quốc tế như tập đoàn, nên có thể phải bảo vệ lợi ích riêng (Moschieri et al., 2024, pp. 662-663).
Nhóm tự điều hành thấy tín hiệu ở những nơi đối tác không với tới: quản lý Cemex và Repsol nhận ra một số nhà thầu trả chậm và khách lớn đổi nhà cung cấp (Moschieri et al., 2024, p. 651).
Endesa là ca lai: giao đối tác việc với chính quyền trung ương, nhưng giúp các thành phố và cộng đồng. Theo các tác giả, khác biệt này có thể giải thích vì sao Endesa thương lượng lại được giá điện và ở lại thêm năm năm (Moschieri et al., 2024, p. 649).
Kết quả này chắc đến đâu?
Chắc ở mức một nghiên cứu định tính tám ca. Chỉ 8 trong 30 công ty đồng ý, có thể vì độ nhạy cảm của vụ việc (Moschieri et al., 2024, p. 633). Chia bốn đối bốn, sáu mệnh đề của bài rút từ phân tích ca (Moschieri et al., 2024, pp. 650-659).
Các tác giả tự kiểm giải thích khác: tập đoàn nào cũng có tài sản, tiền mặt và lợi nhuận dương lúc tranh chấp, và điểm rủi ro chính trị không tách hai nhóm. Nhưng nhóm chủ động có, trung bình, nhiều năm ở Mỹ Latin hơn (Moschieri et al., 2024, pp. 667-668). Kinh nghiệm có thể đứng sau cả lựa chọn lẫn kết quả.
Ranh giới hai nhóm không đúng bằng "sở hữu 100%": Cemex chỉ có 70%, phần còn lại rải cho khoảng 6.000 cổ đông thiểu số (Moschieri et al., 2024, p. 645). "Chủ động" cũng không có nghĩa giữ tài sản: Cemex nhả quyền sở hữu, Repsol bán hết (Moschieri et al., 2024, pp. 658-659, 642). Các tác giả nói các nước này có thể xếp vào hệ thống do nhà nước dẫn dắt, và cách làm khác có thể hợp hơn ở nơi khác (Moschieri et al., 2024, p. 665).
Doanh nghiệp Việt cỡ vừa nên kiểm gì trước khi rót vốn ra nước ngoài?
Kiểm sáu việc; đây là suy luận của tôi, chưa kiểm với số liệu về doanh nghiệp Việt. Ví dụ hoàn toàn giả định: công ty chế biến sắn ở Tây Ninh do tôi bịa ra, định bỏ 12 triệu USD xây nhà máy tinh bột ở nước láng giềng, liên doanh với một công ty địa phương giữ 40%; đối tác lo giấy phép và quan hệ với chính quyền tỉnh.
| Việc cần kiểm | Tín hiệu trong nghiên cứu | Với công ty giả định |
|---|---|---|
| Mức vốn chìm | Vốn chìm cao thì quyền thương lượng mòn nhanh hơn (Moschieri et al., 2024, p. 630) | Bao nhiêu trong 12 triệu USD là móng, bể, đường ống không bán lại được? |
| Điều khoản và đường rút | Ở Guatemala, chính phủ làm vô hiệu một số điều khoản của hợp đồng nhượng quyền gốc, kể cả điều khoản xem xét lại giá (Moschieri et al., 2024, p. 639) | Hợp đồng ghi nơi giải quyết tranh chấp chưa? Hỏi luật sư về hiệp định bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và nước đó; tôi chưa kiểm |
| Ai nói chuyện với chính quyền | Trụ sở Vivendi chỉ được "informed about the evolution" của cuộc trao đổi (Moschieri et al., 2024, p. 650) | Thoả thuận buộc đối tác chuyển mọi thư từ với cơ quan nhà nước |
| Quan hệ ngoài đối tác | Telefónica, Cemex, Shell dựa vào công đoàn, cộng đồng và công ty nước ngoài khác (Moschieri et al., 2024, pp. 651, 658) | Vào hội doanh nghiệp tại chỗ, làm việc trực tiếp với công đoàn và chính quyền xã |
| Chỉ báo sớm | Nhà thầu trả chậm, khách đổi nhà cung cấp, nghỉ ốm tăng, công ty khác không bị nhắm tới (Moschieri et al., 2024, p. 651) | Bảng hằng tháng có người phụ trách, và việc làm khi có hai dấu hiệu |
| Ngưỡng bán | Đối tác của Telecom Italia bất đồng nên khởi kiện để bán hay giữ quyền kiểm soát (Moschieri et al., 2024, p. 654) | Ghi trước mức thuế hay giá đổi nào thì thương lượng, mức nào thì bán, và công thức mua lại phần của đối tác |
Cách này hợp nếu phần lớn vốn nằm ở tài sản cố định bạn sở hữu ở nước ngoài. Nó không hợp nếu bạn chỉ xuất khẩu qua đại lý: các nguồn của bài không bàn về người xuất khẩu.
Đào sâu: nguồn nào cho biết gì, và chưa kiểm được gì?
Bài dựa vào toàn văn Moschieri, Ravasi và Huy (2024), Journal of Management Studies 61(2), trang 627-685, bản PDF truy cập mở, kể cả bảng và hai phụ lục; số trang trích là số trang in. Hai sơ đồ mô hình của bài báo chỉ có phần chữ trích từ PDF. Bài không mở các tài liệu mà bài báo trích; điều nói về nghiên cứu trước là qua lời bài báo.
Vernon (1971) là một cuốn sách, bài không dùng trực tiếp. Mô tả lý thuyết trong bài là cách Moschieri và cộng sự tóm tắt, cộng bản tóm tắt framework của site Mô hình thương lượng suy giảm của MNE với nước chủ nhà; bản tóm tắt có thể đã bỏ một số điều kiện của Vernon. Trang ca của thư viện chỉ có mô tả ngắn; chi tiết tám tập đoàn lấy thẳng từ bài báo.
Bài báo có vài chỗ lệch. Trang 659 ghi Repsol đòi 10.500 triệu USD và nhận một nửa, còn Bảng II in 1.050 và 500 triệu; bài này theo trang 659. Bảng II nói Endesa giữ quyền sở hữu Edesur, phần chữ nói còn 48% cổ phần; bài chỉ ghi "ở lại".
Hỏi nhanh
Thương lượng suy giảm (obsolescing bargain) là gì?
Theo cách Moschieri, Ravasi và Huy (2024) tóm tắt Vernon (1971), lúc đầu chính phủ nước chủ nhà có thể cho ưu đãi thuế, trợ cấp và quy định thuận lợi để đổi lấy vốn, công nghệ và việc làm. Sau khi khoản đầu tư tốn kém đã nằm lại và công nghệ lan sang đối thủ địa phương, chính phủ có thể đánh giá lại và đổi điều khoản [@vernon-1971; @moschieri-2024, pp. 629-630]. Quyền thương lượng của nhà đầu tư vì thế yếu dần theo thời gian.
Liên doanh với đối tác địa phương có che chắn nhà đầu tư khỏi chính phủ thù địch không?
Không chắc. Nhiều nghiên cứu trước coi đối tác địa phương là lá chắn [@moschieri-2024, p. 629]. Trong tám ca Mỹ Latin, bốn tập đoàn hoạt động qua liên doanh và để đối tác lo phần lớn việc tiếp xúc với các bên phi thị trường (Endesa chỉ một phần); lúc đầu cả bốn phản ứng chậm hơn nhóm tự điều hành [@moschieri-2024, p. 637]. Các tác giả không khuyên bỏ liên doanh; họ khuyên giữ đối tác trong ngắn hạn và xây thêm quan hệ trực tiếp [@moschieri-2024, p. 666].
Nhà đầu tư thường nhận lại bao nhiêu khi bị tước đoạt?
Trong tám ca, khoản nhận được thường thấp hơn khoản đòi: Cemex nhận 600 triệu USD trên 1.200 triệu, Telecom Italia nhận 50 triệu trên 961,6 triệu, Vivendi nhận 105 triệu trên 317 triệu và phải đợi tới 2013 [@moschieri-2024, pp. 639-641]. Các tác giả ghi rằng tập đoàn hay nêu mức đòi cao hơn mức họ mong nhận, nên tỷ lệ hai số chưa phải mức thiệt hại thật [@moschieri-2024, p. 667].
Doanh nghiệp xuất khẩu nhỏ có phải lo chuyện này không?
Tuỳ lượng vốn chìm ở nước ngoài. Theo phần tổng quan của Moschieri và cộng sự, ở sản xuất và công nghệ cao nhà đầu tư thường giữ được quyền thương lượng, còn ở khai thác tài nguyên, hạ tầng và dịch vụ thiết yếu quyền ấy mòn nhanh hơn [@moschieri-2024, p. 630]. Nguồn không nói gì về người chỉ xuất khẩu qua đại lý; phần suy ra cho họ là của tôi.
Tài liệu tham khảo
Xếp A–Z theo họ tác giả, kiểu Harvard. Nguồn có DOI thì link https://doi.org/…; nguồn không có DOI thì link trang nguồn hoặc ghi rõ không có DOI.
- Moschieri, C., Ravasi, D. and Huy, Q. (2024) ‘Why do some multinational firms respond better than others to the hostility of host governments? Proximal embedding and the side effects of local partnerships’, Journal of Management Studies, 61(2), pp. 627–685.doi:10.1111/joms.12809Được trích trong 2 bài
- Vernon, R. (1971) Sovereignty at bay: the multinational spread of U.S. enterprises. New York: Basic Books.Không có DOIĐược trích trong 1 bài

Bài này có ích với bạn không?
Chưa có lượt chấm nào.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận, hãy là người đầu tiên.