Marketing & bán hàngĐăng 10 phút đọcCó bản English

Doanh thu định kỳ và bài toán khách rời bỏ

Dành cho chủ doanh nghiệp đang tính chuyển từ bán một lần sang thu phí hằng tháng. Số thuê bao phụ thuộc vào tỷ lệ rời bỏ nhiều như vào số khách mới; bài có phép tính hoà vốn, số liệu của Dish Network và Sirius XM, và ca Starbucks Rewards.

Xem .mdLinkedIn

Giả sử một xưởng rang cà phê ở Cần Thơ bán gói giao hằng tháng. Mỗi tháng xưởng kéo thêm 100 thuê bao, vậy mà sau cả năm số thuê bao vẫn quanh 400. Nếu 25% thuê bao bỏ đi mỗi tháng, 100 khách mới chỉ đủ giữ số thuê bao ở 400. Xưởng và mọi con số ở đây là bịa, dùng để tính. Bài đọc nghiên cứu của McCarthy, Fader và Hardie (2017) về định giá doanh nghiệp thuê bao để hỏi: khách rời bỏ hiện ra ở đâu trong số liệu, và khi nào giữ khách có giá hơn kiếm khách mới?

Doanh thu định kỳ là gì, và khách rời bỏ hiện ra ở đâu trong số liệu?

Là doanh thu từ khách trả một khoản phí lặp lại đều đặn để được dùng một sản phẩm hay dịch vụ. McCarthy, Fader và Hardie (2017) gọi đó là doanh nghiệp thuê bao. Họ kể mô hình này từng thuộc về báo, tạp chí, viễn thông, rồi lan sang phần mềm, chuẩn bị bữa ăn (Blue Apron) và phần mềm dạng dịch vụ bán cho doanh nghiệp, nơi các doanh nghiệp muốn dự báo doanh thu chắc hơn (McCarthy et al., 2017). Thư viện có thuật ngữ mô hình thuê bao và khung doanh thu định kỳ. Khung ba lực đẩy của thư viện thêm công nghệ và sở thích khách; bài tôi đọc chỉ nêu rõ ý doanh thu dự báo được.

Khách rời bỏ hiện ra trong một bảng. Hàng là tháng khách được thu hút, cột là tháng lịch, mỗi ô là số khách của nhóm đó còn trả tiền. Tỷ lệ rời bỏ của tháng là số khách mất chia cho số khách cuối tháng trước (McCarthy et al., 2017). Tính theo mức dùng thay vì phí đều thì xem bài Rolls-Royce.

Xưởng rang cà phê mất bao nhiêu khi khách rời bỏ? Ví dụ giả định

Ở tỷ lệ rời bỏ 25%, mỗi khách mới chỉ vừa hoà vốn. Mọi con số dưới đây là giả định. Gói cà phê giá 250.000 đồng mỗi tháng, biên đóng góp 100.000 đồng mỗi tháng sau tiền hạt, đóng gói và giao hàng. Chi phí thu hút khách của một thuê bao mới, gồm quảng cáo và mẫu thử, là 400.000 đồng, tức bốn tháng biên đóng góp mới hoà vốn.

Nếu tỷ lệ rời bỏ cố định mỗi tháng là c, một thuê bao trả tiền trung bình 1/c tháng. Mỗi tháng có A khách mới thì số thuê bao tiến về A/c. Bảng bỏ qua chiết khấu, thuế và việc tỷ lệ rời bỏ thật không cố định.

Rời bỏ mỗi tháng Tháng trả tiền trung bình Biên đóng góp cả đời, trừ chi phí thu hút Số thuê bao ổn định
5% 20 1,6 triệu đồng 2.000
10% 10 0,6 triệu đồng 1.000
25% 4 0 400

Cột cuối tính với 100 khách mới mỗi tháng. Ở 25%, xưởng quảng cáo thêm thì doanh thu tăng, lợi nhuận không. Giảm rời bỏ từ 25% xuống 10% thì cùng 100 khách mới cho số thuê bao gấp 2,5 lần. Phép tính này là dạng rất đơn giản của giá trị vòng đời khách hàng; Gupta và cộng sự (2006) tóm tắt các mô hình loại đó như công cụ phân bổ nguồn lực marketing cho thu hút, giữ chân và bán chéo (Gupta et al., 2006).

Dùng một tỷ lệ rời bỏ cho mọi khách có sai không?

Có thể sai, theo hướng đánh giá thấp khách hiện có. McCarthy và cộng sự ghi rằng các mô hình đời trước, kể cả của Gupta, Lehmann và Stuart (2004), giả định tỷ lệ giữ chân không đổi. Theo họ, Fader và Hardie (2010) cho thấy giả định đó bỏ qua việc tỷ lệ giữ chân của từng nhóm tăng dần theo thời gian, nên giá trị còn lại của khách hiện có bị ước thấp (McCarthy et al., 2017). Tôi chưa đọc hai bài này.

Chính họ dựng mô hình cho phép khách khác nhau và tỷ lệ rời bỏ đổi theo thời gian gắn bó, rồi áp vào Dish Network, hãng truyền hình trả tiền ở Mỹ. Họ so hai khách tưởng tượng: Robin mới vào cuối quý 1 năm 2015, Larry đã là khách mười năm. Mô hình ước tính Robin còn trung bình 5,5 năm, Larry còn 9,4 năm (McCarthy et al., 2017).

Thời gian gắn bó % số khách % giá trị khách hiện có
0–2 năm 31 28
2–5 năm 31 29
5–10 năm 25 27
trên 10 năm 12 16

Nguồn: bảng 8 của McCarthy, Fader và Hardie (2017), bản chấp nhận đăng (McCarthy et al., 2017). Đây là ước lượng từ mô hình trên số liệu tổng hợp, không phải dữ liệu từng khách. Cái mang về được là phương pháp: đừng báo cáo một tỷ lệ rời bỏ chung, hãy tách theo thời gian gắn bó.

Giữ chân hay kiếm khách mới: Dish và Sirius XM nói gì?

Theo hai ví dụ này, tuỳ doanh nghiệp: tác giả áp cùng mô hình cho hai công ty. Cuối quý 1 năm 2015, Dish thu 88,72 USD mỗi khách mỗi tháng và chi 716,46 USD để thu hút một khách; Sirius XM thu 16,72 USD và chi 82,06 USD (McCarthy et al., 2017). Theo tác giả, Dish trưởng thành, Sirius XM tăng nhanh; hai hãng còn khác cấu trúc chi phí và loại khách.

Về độ nhạy, họ giữ nguyên hai quá trình, rút lại tham số của quá trình thứ ba 500 lần bằng bootstrap, rồi lấy khoảng 95% cho giá cổ phiếu ước tính của Dish. Khoảng đó là ±0,2% khi đổi quá trình thu hút, ±3,4% khi đổi quá trình giữ chân và ±3,0% khi đổi doanh thu mỗi thuê bao (McCarthy et al., 2017). Đó là độ bất định của ước lượng, không phải kết quả kiểu "giữ chân tăng 1% thì giá trị tăng bao nhiêu".

Ở phần phân rã, họ viết rằng giá trị của Dish phụ thuộc và nhạy hơn vào khả năng giữ khách hiện có so với kiếm khách mới, còn giá trị của Sirius XM phụ thuộc nhiều hơn vào việc thu hút khách và lợi suất từ vốn bỏ vào khách mới (McCarthy et al., 2017). Hệ quả cho chủ doanh nghiệp: "giữ hay kiếm" không có đáp án chung. Chi phí thu hút mỗi khách của Sirius XM chỉ bằng khoảng một phần chín của Dish, dù mỗi khách trả ít hơn nhiều mỗi tháng.

Chương trình tích điểm của Starbucks có tính là doanh thu định kỳ không?

Không. Báo cáo 10-K năm tài chính 2025 (kết thúc 28/9/2025) mô tả thẻ Starbucks Card nhằm tăng tần suất đến cửa hàng của người giữ thẻ, một phần qua chương trình Starbucks Rewards; ở gần như mọi thị trường, kể cả Mỹ và Canada, khách đăng ký thẻ được tự động vào chương trình (Starbucks Corporation, 2025). Phần kế toán gọi đây chủ yếu là chương trình dựa trên chi tiêu: mua hàng được Stars, đủ Stars thì đổi sản phẩm miễn phí, Stars thường hết hạn sau sáu đến mười hai tháng tuỳ thị trường (Starbucks Corporation, 2025). Số dư thẻ giá trị lưu trữ và chương trình thưởng cuối năm là 1.751,7 triệu USD doanh thu hoãn lại (Starbucks Corporation, 2025). Xem hồ sơ Starbucks.

Khác thuê bao ở chỗ 10-K không mô tả phí lặp lại hay thủ tục huỷ, nên "rời bỏ" không quan sát trực tiếp được, khách chỉ thôi ghé. McCarthy và cộng sự nói khung của họ chỉ hợp doanh nghiệp thuê bao, nơi việc rời đi quan sát được; với bối cảnh không hợp đồng, họ thừa nhận chưa rõ công ty phải công bố số liệu gì để người ngoài ước lượng được bảng nhóm khách (McCarthy et al., 2017). Trong phần 10-K tôi tìm, không thấy số hội viên hay tỷ lệ ngừng mua (Starbucks Corporation, 2025).

Cách đọc của tôi, không phải lời của nguồn: hạn hết hạn của Stars là chiếc đồng hồ biến việc khách bỏ đi thành sự kiện đo được, còn quán nhỏ phải tự đặt quy tắc, ví dụ sáu mươi ngày không mua là rời bỏ, rồi theo dõi theo nhóm. Cùng công ty, bài Khi lịch sử vô dụng đọc cách Starbucks tách số giao dịch khỏi giá trị hoá đơn giữa đại dịch; xem thêm chương trình khách hàng thân thiết.

Trước khi chuyển sang thu định kỳ, nên kiểm những gì?

Hợp nếu khách cần sản phẩm đều đặn, bạn đo được ai còn trả tiền, và tỷ lệ rời bỏ hoà vốn xa hơn mức bạn thật sự gặp. Không hợp nếu nhu cầu thất thường hoặc bạn không phân biệt nổi khách ngưng với khách tạm nghỉ. Đó là suy luận của tôi.

  1. Viết định nghĩa rời bỏ ra giấy: khách huỷ hay không gia hạn, hay không mua trong bao nhiêu ngày.
  2. Lập bảng nhóm khách theo tháng thu hút, tách tỷ lệ rời bỏ thành ba khoảng: ba tháng đầu, tháng thứ tư đến thứ mười hai, và sau một năm.
  3. Tính tỷ lệ rời bỏ hoà vốn bằng biên đóng góp chia cho chi phí thu hút, rồi so với số thật.

Đào sâu: tôi đã đọc gì, chưa đọc gì?

Thư viện có khung "Sáu mô hình doanh thu định kỳ", nhưng bản đang đăng chỉ có câu hỏi và nguồn gốc, chưa liệt kê mô hình nào, và bài của McCarthy, Fader và Hardie không có bảng phân loại như vậy. Vì thế bài không đếm hay so sánh mô hình theo tên mà đi từ điều cả hai nguồn cùng nói: phí lặp lại, tỷ lệ rời bỏ, dữ liệu nhóm khách.

Tôi đọc toàn văn McCarthy, Fader và Hardie (2017) ở bản chấp nhận đăng, lưu công khai ở LBS Research Online, nên không có số trang bản in và số liệu có thể lệch chút. Số về Dish và Sirius XM là ước lượng từ mô hình, dùng dữ liệu đến quý 1 năm 2015, chỉ cho một hãng truyền hình trả tiền và một hãng radio vệ tinh ở Mỹ. Bảng 5 ghi chi phí thu hút mỗi khách của Dish là 716,46 USD, phần so sánh Robin và Larry dùng 854 USD; tôi dùng số bảng 5.

Với Gupta và cộng sự (2006) và Dorotic, Bijmolt và Verhoef (2012), tôi chỉ đọc phần tóm tắt. Với Starbucks, tôi chỉ đọc 10-K năm tài chính 2025.

Hỏi nhanh

Tỷ lệ rời bỏ bao nhiêu thì chấp nhận được?

Không có ngưỡng chung; mỗi doanh nghiệp tự tính. Theo phép tính đơn giản, bỏ qua chiết khấu và coi tỷ lệ rời bỏ là cố định, mỗi thuê bao trả tiền trung bình 1 chia cho tỷ lệ rời bỏ tháng. Thuê bao vừa hoà vốn khi tỷ lệ rời bỏ bằng biên đóng góp hằng tháng chia cho chi phí thu hút. Muốn có lãi, tỷ lệ thật phải thấp hơn mức đó.

Cần số liệu tối thiểu nào để theo dõi khách rời bỏ?

Mỗi tháng ghi bốn số: khách mới, khách mất, khách còn lại cuối tháng và doanh thu. McCarthy, Fader và Hardie (2017) cho biết các công ty niêm yết hay công bố ba số đầu theo quý [@mccarthy-2017]. Ghi thêm tháng mỗi khách bắt đầu trả tiền thì bạn lập được bảng nhóm khách và thấy tỷ lệ rời bỏ đổi thế nào theo thời gian gắn bó.

Chương trình tích điểm có tính là doanh thu định kỳ không?

Không, nếu hiểu doanh thu định kỳ là phí lặp lại để được dùng sản phẩm hay dịch vụ. Chương trình tích điểm thường thưởng cho việc mua mà không thu phí, nên bạn chỉ biết ai đã bỏ đi sau khi tự đặt quy tắc, chẳng hạn không mua trong một số ngày nhất định. Tổng quan của Dorotic, Bijmolt và Verhoef (2012) thấy tích điểm làm tăng hành vi mua theo thời gian, nhưng mức tăng khác nhau giữa các nhóm khách và thị trường [@dorotic-2012].

Tài liệu tham khảo

Xếp A–Z theo họ tác giả, kiểu Harvard. Nguồn có DOI thì link https://doi.org/…; nguồn không có DOI thì link trang nguồn hoặc ghi rõ không có DOI.

  1. Gupta, S. et al. (2006) ‘Modeling customer lifetime value’, Journal of Service Research, 9(2), pp. 139–155.doi:10.1177/1094670506293810Được trích trong 1 bài
  2. McCarthy, D.M., Fader, P.S. and Hardie, B.G.S. (2017) ‘Valuing subscription-based businesses using publicly disclosed customer data’, Journal of Marketing, 81(1), pp. 17–35.doi:10.1509/jm.15.0519Được trích trong 1 bài
  3. Starbucks Corporation (2025) Form 10-K for the fiscal year ended 28 September 2025. U.S. Securities and Exchange Commission.Không có DOIsec.govĐược trích trong 1 bài
Đọc tiếp

Bài liên quan

Tất cả bài viết

Bài này có ích với bạn không?

Chấm điểm bài viết từ 1 đến 5 sao

Chưa có lượt chấm nào.

Bình luận (0)

Chưa có bình luận, hãy là người đầu tiên.

Viết bình luận

Bình luận được kiểm duyệt trước khi hiện. Có thể mất vài giờ.