Quản trị thay đổiĐăng 10 phút đọcCó bản English

Lewin có thật sự tạo ra mô hình ba bước? Đọc lại bài gốc năm 1947

Dành cho chủ doanh nghiệp và quản lý đã học "làm tan băng, thay đổi, đóng băng lại" như mô hình của Lewin. Theo Cummings, Bridgman và Brown (2016), Lewin chỉ viết vài đoạn ngắn về ba khía cạnh của thay đổi; mô hình trong giáo trình do người sau dựng nên.

Xem .mdLinkedIn

Nhiều giáo trình quản trị thay đổi có ba ô nối nhau bằng mũi tên: làm tan băng, thay đổi, đóng băng lại, kèm tên Kurt Lewin. Một chủ cửa hàng 12 người sắp đổi cách kiểm kho định lấy ba ô đó làm kế hoạch ba tuần. Đáng hỏi hai điều trước: Lewin thật sự viết gì, và ai dựng ba ô? Cửa hàng này là ví dụ giả định.

Mô hình ba bước trong giáo trình trông ra sao?

Đó là một chuỗi tuyến tính. Thư viện của site ghi bước một là thách thức hiện trạng, bước hai là thực hiện và lôi kéo người tham gia, bước ba là đưa hành vi mới vào quy trình và duy trì bằng phản hồi và thưởng.

Mô hình ba bước của Lewin

Khi ban lãnh đạo chuẩn bị thay đổi cách làm việc của tổ chức, làm sao để "rã đông" thói quen cũ, triển khai thay đổi rồi "đông cứng" lại để nó không bị thoái lui?

  1. Ba bước
  2. Làm tan băngThách thức hiện trạng và giải thích vì sao phải đổi.
  3. Chuyển đổiThực hiện thay đổi, lôi kéo người tham gia, nêu lợi ích cá nhân.
  4. Cố địnhĐưa hành vi mới vào quy trình, duy trì bằng phản hồi và thưởng.
Hình 1 · Ba bước theo cách giáo trình trình bày. Theo Cummings, Bridgman và Brown (2016), dạng sơ đồ tuyến tính này không phải do Lewin vẽ.Trang framework

Cummings và cộng sự mở bài bằng việc dẫn các tác giả, trong đó có giáo trình, gọi mô hình này là cách tiếp cận "cơ bản" hay "kinh điển", và một câu của Schein cho rằng các giả định nền tảng về thay đổi trong hệ thống con người bắt nguồn từ Lewin (1947) (Cummings et al., 2016).

Lewin viết gì thật trong bài năm 1947?

Một tiểu mục có tiêu đề "Changing as Three Steps: Unfreezing, Moving, and Freezing of Group Standards" (Lewin, 1947, p. 34). Nó có thật, nhưng nói về chuẩn mực của nhóm, không phải về người dẫn dắt thay đổi.

Lewin mở bằng một quan sát: thay đổi hướng tới mức hoạt động cao hơn của nhóm thường ngắn hạn, và sau một "shot in the arm" thì đời sống nhóm sớm trở về mức cũ (Lewin, 1947, p. 34). Một thay đổi thành công, ông viết, gồm "unfreezing (if necessary) the present level", "moving to the new level" và "freezing group life on the new level" (Lewin, 1947, p. 35).

"Freezing" ở đây không có nghĩa là đưa vào quy trình. Ông giải thích rằng "the new force field is made relatively secure against change" (Lewin, 1947, p. 35). Làm tan băng, theo ông, "may involve quite different problems in different cases", và có lúc cần "an emotional stir-up" có chủ ý để phá lớp vỏ tự mãn (Lewin, 1947, p. 35). Khi tóm lại ở trang 36, ông viết "unfreezing, change of level, and freezing on the new level" (Lewin, 1947, p. 36). Tôi không thấy chữ "refreezing" ở chỗ nào trong bài.

Cummings và cộng sự thêm: đoạn này nằm ở tiểu mục thứ 24 trong 25 tiểu mục, không có bằng chứng hay hình minh hoạ riêng, và họ tìm trong 67 bài, chương sách, sách của Lewin cùng kho lưu trữ ở Iowa và Tavistock mà không thấy nguồn gốc nào khác (Cummings et al., 2016).

Phần Lewin dành chỗ là thí nghiệm "quyết định nhóm" ngay sau đó. Ở bệnh viện bang Iowa, một chuyên viên dinh dưỡng dành khoảng 25 phút cho một sản phụ, và cùng thời gian đó cho một nhóm sáu người; đến tuần thứ tư, mọi người trong nhóm quyết định đều cho con uống đúng lượng dầu gan cá được khuyên (Lewin, 1947, pp. 35–36). Ông dặn thêm: quản lý lao vào nhà máy để tăng sản lượng bằng quyết định nhóm "are likely to encounter failure", vì "there are no patent medicines and each case demands careful diagnosis" (Lewin, 1947, p. 36).

Ai dựng ba ô trong giáo trình, và khi nào?

Theo Cummings và cộng sự, nhiều người nối tiếp nhau hơn bốn mươi năm, phần lớn sau khi Lewin mất:

Năm Ai Điều bài ghi nhận
1947 Marrow, Likert, Lippitt Các bài tưởng niệm Lewin không nhắc ba bước
1950 Festinger và Coyle Lần đầu thấy "refreezing"
1958 Lippitt và đồng tác giả Gọi là mô hình ba pha của Lewin, làm nền cho mô hình bảy pha cho "change agent"
1961 Schein Lần đầu thấy "refreezing" trong bối cảnh quản lý; gọi các bước là các pha gây ảnh hưởng, biến cách quan sát thay đổi trong nhóm thành công cụ cho người dẫn dắt
1979 Robbins, giáo trình ấn bản 1 Một câu về ba giai đoạn, chú thích "Lewin, 1951", không số trang
1986 đến 1993 Robbins, ấn bản 3 đến 6 Sơ đồ tuyến tính xuất hiện không ghi tên Lewin, rồi mang tiêu đề gọi là mô hình "kinh điển" của Lewin

Vì sao đến thập niên 1980 mới thành "nền móng"? Bài nêu năm điều kiện, trong đó sách bán chạy như Theory Z (1981) và In Search of Excellence (1982) kéo theo nhu cầu về khung dễ nhớ, và giáo trình thêm sơ đồ bước để dạy lớp đông dễ hơn. Theo thống kê bài báo của Palmer và cộng sự mà bài dẫn, phát triển tổ chức áp đảo năm 1980, đến 1993 quản trị thay đổi vượt hẳn. Một lĩnh vực mới cần người cha học thuật, và Lewin, nhà tâm lý xã hội có nền thực nghiệm, vừa vặn (Cummings et al., 2016). Theo bài, lời phê rằng cách tiếp cận này đã lỗi thời vì dành cho thế giới dễ đoán không liên quan đến điều Lewin viết.

Giáo trình bỏ sót điều gì của Lewin?

Nhóm. Bài 1947 coi nhóm, không phải người quản lý hay từng nhân viên, là nơi thay đổi diễn ra, và mức hoạt động của nhóm do một trường lực quyết định (Lewin, 1947, p. 35).

Giáo trình (theo mô tả của Cummings và cộng sự) Bài 1947 của Lewin
Người dẫn dắt vượt qua kháng cự của từng nhân viên Thường dễ đổi các cá nhân đã hợp thành nhóm hơn đổi riêng từng người (Lewin, 1947, p. 34)
Kháng cự là vật cản cần phá Một nguyên nhân của kháng cự nằm ở quan hệ giữa cá nhân và giá trị của chuẩn nhóm; đổi chuẩn nhóm thì phần kháng cự này biến mất (Lewin, 1947, pp. 34, 39)
Tổ chức là khối băng đứng yên Mức sản lượng của một nhóm là một quá trình như dòng sông, đổi từng phần tử dù tốc độ và hướng đi giữ nguyên (Lewin, 1947, p. 15)
Thuyết phục để vượt kháng cự Hai cách: thêm lực theo hướng muốn đi, hoặc giảm lực cản (Lewin, 1947, p. 26)

Hàng cuối dễ bị bỏ qua nhất. Ở các thí nghiệm sản lượng, Lewin nhận xét các phương pháp có vẻ dựa, ít nhất một phần, vào việc giảm lực kìm sản lượng chứ không thêm lực đẩy (Lewin, 1947, p. 26).

Cummings và cộng sự nhắc thêm Harwood Manufacturing Corporation, nơi Lewin tham gia nghiên cứu thay đổi: cách thành công nhất là cho mọi bên liên quan cùng bàn quy trình cụ thể rồi mới thống nhất (Cummings et al., 2016). Cách Lewin nói về kháng cự cùng hướng với lập luận coi kháng cự là chuyện của hệ thống trong bài về bốn lý thuyết kháng cự.

Làm sao dùng ba khía cạnh của Lewin mà không dùng nhầm ba ô của giáo trình?

Dùng chúng như câu hỏi về nhóm, không như ba tuần trên lịch. Bảng sau đối chiếu hai kế hoạch cho một việc giả định: cửa hàng phụ tùng xe máy 12 người muốn mỗi cuối ngày hai người cùng đếm kho và ghi vào một bảng chung, thay vì mỗi người ghi sổ riêng.

Câu hỏi Kế hoạch theo giáo trình Kế hoạch theo bài 1947
Thay đổi chạm chuẩn nào của nhóm? Tuần 1: họp báo vì sao phải đổi Hỏi nhóm đang giữ chuẩn nào (giả định: "ai đếm người đó chịu") và ai giữ chuẩn ấy
Lực nào thúc, lực nào cản? Tuần 2 đến 3: tập huấn, nêu lợi ích cá nhân Viết hai cột lực; tìm lực cản nào gỡ được trước khi thêm sức ép (Lewin, 1947, p. 26)
Ai quyết định cách làm? Chủ đưa quy trình mới Cho nhóm chọn một bản thử; Lewin dặn cách này cần kỹ năng và điều kiện nền (Lewin, 1947, p. 36)
Cái gì giữ mức mới ở lại? Tuần 4: ghi vào quy trình, gắn thưởng Tìm cách sắp xếp tự giữ được, rồi kiểm sau hai và bốn tuần như thí nghiệm của ông (Lewin, 1947, p. 35)

Hàng cuối là chỗ tôi áp dụng, không phải lời Lewin. Ông chỉ nói đôi khi có thể lập "an organizational set up which is equivalent to a stable circular causal process" (Lewin, 1947, p. 35). Ở cửa hàng giả định, đó có thể là cặp đếm kho đổi người mỗi tuần để ai đếm cũng bị kiểm chéo. Chưa ai thử ví dụ này.

Cách đọc theo bài gốc hợp nếu thay đổi chạm vào việc cả nhóm làm chung và bạn có chỗ để họp, thử rồi chỉnh. Nó không hợp nếu một quy định buộc đổi trong một ngày, hoặc thay đổi chỉ chạm một người; khi đó ba bước vẫn dùng được làm bảng kiểm nhanh.

Đào sâu: bài của Cummings dựa trên gì, và giới hạn ở đâu?

Bài dùng cách tiếp cận "phản lịch sử" theo Michel Foucault: thay vì kể lịch sử như đường đi lên từ nền móng đáng kính, họ hỏi nền móng ấy được dựng thế nào (Cummings et al., 2016). Phần giáo trình lấy Robbins làm ví dụ chính vì cuốn này xuất bản từ 1979 và, theo lời tựa mà bài trích, là giáo trình hành vi tổ chức bán chạy nhất.

Bài đề nghị dạy chương về thay đổi với nhóm làm trung tâm (Cummings et al., 2016). Những khung dựng sau trên nền ba bước, như Tám bước thay đổi của Kotter, được bài mô tả là đổi mới nhưng giữ tinh thần Lewin. Phê phán khái niệm này có mục riêng: "đóng băng lại".

Ba giới hạn. Kết luận "không có nguồn gốc nào khác" là kết quả phủ định, chỉ đúng trong phạm vi họ đã tìm. Phần giáo trình dựa chủ yếu vào một bộ sách. Và bài không đo xem ba bước có giúp tổ chức thay đổi tốt hơn hay không.

Tôi đọc những gì? Bản thảo tác giả của Cummings và cộng sự, từ kho lưu trữ mở của Victoria University of Wellington, không phải bản in của tạp chí, nên tôi không ghi số trang cho bài này. Bài Lewin (1947) tôi đọc toàn văn từ bản quét trên Internet Archive; số trang theo số in ở cuối mỗi trang, và khớp với trang 36 mà Cummings và cộng sự dẫn cho cụm "may be thought of". Tôi không đọc Field Theory in Social Science, chương của Lewin trong sách của Newcomb và Hartley (1947), các văn bản của Lippitt, Schein, Festinger hay các ấn bản Robbins; mọi điều về chúng theo lời kể của Cummings và cộng sự.

Hỏi nhanh

Kurt Lewin là ai, và ông làm việc ở đâu trước khi viết bài năm 1947?

Theo Cummings, Bridgman và Brown (2016), Lewin học triết học và tâm lý học, làm ở Viện Tâm lý Đại học Berlin đến năm 1933 rồi rời Đức. Ông sang Mỹ, nghiên cứu hành vi trẻ em ở Cornell, rồi từ 1935 đến 1945 làm ở Iowa Child Welfare Research Station, nơi ông ghi chức danh là giáo sư tâm lý trẻ em. Bài "Frontiers in group dynamics" được đăng vài tuần sau khi ông mất, và đó không phải một cuốn sách quản trị.

Nếu cần trích mô hình ba bước trong báo cáo, nên ghi nguồn nào?

Ghi bài Lewin (1947) kèm số trang cho phần ông viết, và ghi riêng nguồn của người dựng mô hình cho phần còn lại. Cummings và cộng sự thấy trong gần 10.000 lượt trích "Lewin, 1951" (cuốn Field Theory in Social Science, do Cartwright biên tập bốn năm sau khi ông mất) trên Google Scholar, 100 bài được trích nhiều nhất không bài nào ghi số trang. Đoạn về ba bước trong cuốn đó chỉ dài 131 từ trên 338 trang, nên thiếu số trang là người đọc không kiểm được bạn trích đoạn nào.

Bài của Cummings có nói mô hình ba bước vô dụng không?

Không. Câu hỏi của họ là mô hình ấy đến từ đâu và nó được dựng thành "nền móng" thế nào, không phải nó có giúp quản lý hay không. Bài không thử hiệu quả của ba bước trong tổ chức thật, nên chưa thể rút ra kết luận về hiệu quả từ đó.

Tài liệu tham khảo

Xếp A–Z theo họ tác giả, kiểu Harvard. Nguồn có DOI thì link https://doi.org/…; nguồn không có DOI thì link trang nguồn hoặc ghi rõ không có DOI.

  1. Cummings, S., Bridgman, T. and Brown, K.G. (2016) ‘Unfreezing change as three steps: rethinking Kurt Lewin's legacy for change management’, Human Relations, 69(1), pp. 33–60.doi:10.1177/0018726715577707Được trích trong 2 bài
  2. Lewin, K. (1947) ‘Frontiers in group dynamics’, Human Relations, 1(1), pp. 5–41.doi:10.1177/001872674700100103Được trích trong 1 bài
Đọc tiếp

Bài liên quan

Tất cả bài viết

Bài này có ích với bạn không?

Chấm điểm bài viết từ 1 đến 5 sao

Chưa có lượt chấm nào.

Bình luận (0)

Chưa có bình luận, hãy là người đầu tiên.

Viết bình luận

Bình luận được kiểm duyệt trước khi hiện. Có thể mất vài giờ.