Chiến lược & lãnh đạoĐăng 10 phút đọcCó bản English

OLI của Dunning: đầu tư trực tiếp hay xuất khẩu?

Dành cho CEO hoặc hội đồng quản trị đang cân nhắc dựng cơ sở ở nước ngoài thay vì xuất khẩu. Câu trả lời ngắn: đầu tư trực tiếp cần đủ cả ba lợi thế của Dunning, không phải "một hoặc nhiều"; còn rút lui chỉ cần thiếu một.

Xem .mdLinkedIn

Ngày 30/7/2026, Green SM khai trương dịch vụ taxi điện ở Copenhagen. Theo thông cáo của chính hãng, họ sở hữu và quản lý đội xe, thay vì chỉ nối hành khách với tài xế độc lập (Green SM, 2026). Taxi không đóng container gửi sang Đan Mạch được, nên Green SM không phải chọn giữa đầu tư và xuất khẩu. Một xưởng đồ gỗ thì phải chọn, và hội đồng quản trị hay chốt bằng một câu: "Ta có lợi thế, vậy đầu tư."

Bài này hỏi lại: một lợi thế đã đủ chưa? Mô hình OLI nói là chưa. Cách so sánh xuất khẩu, cấp phép, nhượng quyền nằm ở bài chọn cách vào thị trường nước ngoài; ở đây tôi chỉ bàn điều kiện đầu tư.

Ba lợi thế của Dunning hỏi những gì?

Ba lợi thế là ba câu hỏi riêng.

Cổng O (lợi thế sở hữu) hỏi công ty có gì mà đối thủ ở nước đích thiếu. Lợi thế ấy phải đủ bù chi phí dựng và vận hành cơ sở ở nước ngoài, cộng thêm những chi phí mà nhà sản xuất bản địa không phải chịu (Dunning, 1988, p. 2).

Cổng I (nội hoá) hỏi tự làm có hơn bán quyền không. Đây là điều kiện thứ hai: công ty phải thấy chuyển lợi thế qua biên giới trong chính tổ chức của mình có lợi hơn bán nó, hoặc bán quyền sử dụng cho doanh nghiệp nước ngoài (Dunning, 1988, p. 3).

Cổng L (địa điểm) hỏi vì sao phải làm ở đó. Doanh nghiệp sản xuất ở nước ngoài khi thấy có lợi ghép sản phẩm trung gian chuyển được từ nước nhà với một số nguồn lực không di chuyển, hoặc sản phẩm trung gian khác, ở nước kia. Rào cản thương mại từng kéo nhiều dòng đầu tư sản xuất, và can thiệp của chính phủ có thể khuyến khích hoặc cản đầu tư vào (Dunning, 1988, p. 4).

Mô hình chiết trung OLI của Dunning

Khi muốn bán hàng ra nước ngoài, ban lãnh đạo nên tự đầu tư nhà máy ở đó hay chỉ xuất khẩu hoặc cấp phép cho đối tác bản địa?

  1. ODoanh nghiệp có lợi thế sở hữu mà đối thủ nước ngoài thiếu?Không đủ cơ sở đầu tư ra nước ngoài
  2. LNước đích có lợi thế địa điểm đáng để sản xuất tại đó?Xuất khẩu từ nước nhà
  3. ITự tổ chức hoạt động rẻ hơn dùng thị trường (cấp phép, hợp đồng)?Cấp phép hoặc liên doanh
FDI là phương thức vào thị trường phù hợp
Hình 1 · (vẽ lại theo framework trong thư viện của site)Trang framework

Cần một lợi thế hay phải đủ cả ba?

Đủ cả ba nếu muốn đầu tư sản xuất ở nước ngoài. Một lợi thế chỉ cho bạn quyền hỏi tiếp.

Bài 1988 không nói thẳng "phải đủ cả ba" cho lần vào đầu tiên, nhưng ủng hộ cách đọc chặt. Lợi thế sở hữu là điều kiện đầu tiên để công ty cạnh tranh bằng cách sản xuất ở nước khác (Dunning, 1988, p. 2), nội hoá là "điều kiện thứ hai" (Dunning, 1988, p. 3), địa điểm là mạch thứ ba (Dunning, 1988, p. 4). Bằng chứng gần nhất nằm ở đoạn bàn về rút vốn: rút lui khác lần vào đầu tiên ở chỗ nó chỉ đòi thiếu một trong ba biến OLI (Dunning, 1988, p. 22).

Tôi ngờ "một hoặc nhiều" là quy tắc rút lui bị lật sang chiều vào, nhưng không truy được ai nói câu đó đầu tiên, nên đây chỉ là suy đoán. Hệ quả: nếu "một" là đủ, mọi hãng có thương hiệu mạnh ở nhà đều có lý do dựng nhà máy; nếu phải đủ ba, thương hiệu mạnh mà nước đích không cho lý do sản xuất tại chỗ thì vẫn nên xuất khẩu.

Thiếu một cổng thì đi đường nào, và chắc đến đâu?

Theo sơ đồ của thư viện: thiếu O thì không có cơ sở đầu tư ra nước ngoài; có O mà thiếu L thì xuất khẩu từ nước nhà; có O và L mà thiếu I thì cấp phép hoặc liên doanh Mô hình chiết trung OLI của Dunning. Dùng làm bước sàng đầu thì được, dùng như định lý thì không, vì hai lý do ngay trong bài 1988.

Một, Dunning thừa nhận mô hình có chút tiến bộ với liên doanh và hợp đồng phi vốn, nhưng ít tiến bộ trong việc gộp giải thích thương mại với sản xuất (Dunning, 1988, p. 18). Nhánh "thiếu L thì xuất khẩu" chạm đúng chỗ ấy, và "cấp phép hoặc liên doanh" là cách đọc gọn của thư viện, không phải điều Dunning chứng minh.

Hai, "lợi thế" đổi nghĩa theo mục đích đầu tư. Thông số khiến một hãng đầu tư vào mỏ đồng ở New Guinea khó giống thông số của một hãng ti vi màu Nhật đầu tư vào Mỹ (Dunning, 1988, p. 5). Ghi rõ mục đích trước khi chấm cổng; hình 2 của bài phân ba mục đích: tìm thị trường, tìm nguồn lực, tìm hiệu quả (Dunning, 1988, p. 13).

Chính phủ có đóng hoặc mở được một cổng không?

Có, và có hai ví dụ có tài liệu. Dunning mô tả Nhật Bản: theo ngôn ngữ OLI, ban đầu Nhật không cho công ty đa quốc gia nước ngoài nội hoá phần lớn thị trường sản phẩm trung gian, nhất là công nghệ, mà mua chúng bằng đường khác hoặc thúc đẩy sản xuất bản địa (Dunning, 1988, p. 17). Cổng I bị chính sách khoá.

Ca thứ hai ngược chiều. Ngày 7/1/2019 Tesla động thổ nhà máy ở Thượng Hải. Xinhua gọi Tesla là hãng đầu tiên hưởng chính sách mới cho phép hãng xe nước ngoài lập công ty con sở hữu toàn bộ ở Trung Quốc, còn BMW từ tháng 10/2018 đã công bố nâng phần vốn trong liên doanh ở Thẩm Dương từ 50% lên 75% (Xinhua, 2019). Chi tiết ở ca nhà máy Thượng Hải của Tesla.

Về cổng L, bài cho một dữ kiện: Model 3 khởi điểm 35.000 USD ở Mỹ, bán khoảng 500.000 đến 560.000 nhân dân tệ ở Trung Quốc, và sản xuất tại chỗ được kỳ vọng kéo giá xuống (Xinhua, 2019). Bài không giải thích khoảng chênh. Về cổng O, bài nhắc mạng trạm sạc và trung tâm R&D của Tesla ở Trung Quốc nhưng không gọi đó là lợi thế sở hữu, nên tôi để trống ô đó.

Dịch vụ không xuất khẩu được thì OLI còn hỏi gì?

Còn cổng I: tự vận hành hay để đối tác độc lập chạy. Green SM giám sát vận hành tài xế để giữ chất lượng đồng đều (Green SM, 2026), khớp với một động cơ nội hoá Dunning liệt kê là bảo đảm chất lượng sản phẩm cuối (Dunning, 1988, p. 3). Chiều ngược lại cũng có trong bài 1988: chi phí hành chính của bộ máy tự vận hành và thiệt hại bên ngoài khi vận hành ở nước ngoài (ông lấy thảm hoạ Bhopal làm ví dụ) đẩy công ty về phía hợp đồng hoặc cổ phần chia sẻ (Dunning, 1988, p. 3).

Thông cáo không nói hãng có cân nhắc nhượng quyền hay không, cũng không gọi tên lợi thế sở hữu (chỉ nhắc kinh nghiệm phục vụ hàng triệu chuyến ở châu Á). Đây là văn bản của hãng, nên tôi coi nó là điều hãng muốn công bố, không phải bằng chứng về phép tính nội bộ. Xem thêm ca Green SM.

Rút lui cần gì? Starbucks ở Úc

Dunning dự đoán công ty muốn giảm hiện diện ở một nước trong hai tình huống: lợi thế cạnh tranh so với công ty bản địa bị yếu đi, hoặc cán cân giữa dùng thị trường ngoài và dùng bộ máy nội bộ đổi chiều (Dunning, 1988, p. 22).

Tám năm sau khi bán cà phê ở Úc, Starbucks đóng 61 trong 85 cửa hàng, theo BBC ngày 4/8/2008. Một nhà tâm lý tiêu dùng ở Melbourne nói chuỗi có lẽ quá chuẩn hoá, nhanh bị bắt chước và mất vẻ đặc sắc (BBC News, 2008). Đọc qua OLI, đó là câu hỏi về cổng O: lợi thế còn bù được chi phí khi đối thủ bản địa làm gần giống? Đây là cách đọc của tôi, và là ý kiến chuyên gia, không phải đo lường. Giới phân tích cũng cho rằng hãng mở quá nhanh và gánh quá nhiều nợ, phần nằm ngoài OLI (BBC News, 2008).

John Roberts của Đại học New South Wales nói với BBC rằng Starbucks làm rất tốt ở những thị trường quốc tế chưa có truyền thống uống cà phê, và nêu Nhật và Trung Quốc (BBC News, 2008). Cùng một công ty, ở nước này làm tốt, ở nước kia đóng cửa hàng: OLI chấm từng nước, không chấm theo công ty. Xem ca Starbucks rút khỏi Úc, và Walmart ở Đức cho một ca rút qua mua lại.

Dùng thế nào trước cuộc họp hội đồng?

Bảng do tôi dựng từ điều kiện Dunning nêu, thêm hàng chính sách từ ví dụ Nhật và Trung Quốc; hai cột phải là gợi ý của tôi.

Cổng Câu hỏi cho hội đồng Bằng chứng nên có Dấu hiệu nên dừng
O Lợi thế nào mà doanh nghiệp bản địa không có và không mua được? Quy trình hay hệ thống đã chạy ở ít nhất một nước khác Lợi thế chỉ có ở nhà: quan hệ, giá nhân công
L Vì sao làm tại chỗ thay vì làm ở nhà rồi chở sang? Phần giá là chi phí qua biên giới, nguồn lực chỉ có ở đó Lý do duy nhất là "thị trường lớn"
I Để đối tác bản địa làm thì ta mất gì? Rủi ro lộ quy trình, điều khoản bảo vệ được đến đâu Chưa ai tính thử một hợp đồng cấp phép tốt
Chính sách Nước đích đang cho phép hình thức nào? Ngành mở, tỷ lệ sở hữu tối đa, thời hạn Quy định vừa đổi hoặc sắp đổi

Cách này hợp nếu hội đồng đang bàn dựng hoặc mua cơ sở và có người đã nói "ta có lợi thế rồi". Không hợp để đánh giá một lô hàng thử đầu tiên, nơi mức lỗ chịu được mới là câu hỏi.

Đào sâu: tôi đã đọc gì, chưa đọc gì?

Tôi đọc toàn văn Dunning (1988) trong bản quét của tạp chí; bản 1980, cũng được thư viện ghi là nguồn, tôi chưa đọc. Trong bản 1988, không có bảng nào ghép từng tổ hợp OLI với xuất khẩu, cấp phép hay đầu tư: cách ghép đó là của thư viện. Thư viện cũng liệt kê bốn động cơ đầu tư; bài 1988 chỉ nêu ba ở hình 2 (Dunning, 1988, p. 13), nên tôi không dùng động cơ thứ tư (tìm tài sản chiến lược).

Mỗi ca dựa vào một nguồn công khai mà tôi đọc toàn văn. Xinhua đăng trên trang chính quyền Phố Đông, tức truyền thông nhà nước Trung Quốc; thông cáo Green SM do chính hãng viết; bài BBC chủ yếu là ý kiến giới phân tích. Không nguồn nào cho lợi nhuận theo nước, nên tôi không phán quyết định nào đúng hay sai.

Hỏi nhanh

Mô hình OLI là gì, và vì sao gọi là "chiết trung"?

Dunning (1988) kể rằng ông đưa ra khái niệm mô hình chiết trung của sản xuất quốc tế lần đầu năm 1976, tại một hội thảo Nobel ở Stockholm. Chữ "chiết trung" nói rằng muốn giải thích đầy đủ hoạt động xuyên quốc gia của doanh nghiệp phải rút từ nhiều mạch lý thuyết kinh tế, và đầu tư trực tiếp chỉ là một trong nhiều kênh tham gia kinh tế quốc tế [@dunning-1988, p. 1]. O, L, I là chữ đầu của ba nhóm lợi thế: sở hữu, địa điểm và nội hoá [@dunning-1988, p. 5].

Có nên đi qua ba cổng theo đúng thứ tự O, L, I không?

Thứ tự trong sơ đồ chỉ để tiện hỏi. Dunning viết rằng quyết định đặt cơ sở ở đâu không độc lập với quyền sở hữu tài sản, cũng không độc lập với cách tài sản hay quyền sử dụng nó được chuyển giao [@dunning-1988, p. 4]. Nếu câu trả lời ở một cổng đổi, hãy quay lại chấm lại các cổng còn lại.

OLI có đoán được một công ty cụ thể sẽ chọn gì không?

Không, và Dunning nói thẳng: vì tổng quát nên mô hình chỉ có sức giải thích hoặc dự báo hạn chế với từng loại sản xuất quốc tế, càng ít với hành vi của từng doanh nghiệp [@dunning-1988, p. 1]. Ông dẫn Horst (1972) khi nói nghiên cứu về biến hành vi của công ty còn ít: ngoài quy mô, Horst không tìm được biến đặc thù nào của công ty giải thích thoả đáng mức độ đa quốc gia của các hãng Mỹ [@dunning-1988, pp. 7-8]. Dùng OLI để đặt câu hỏi cho quyết định của mình, không để đoán đối thủ.

SME vừa nhận đơn hàng nước ngoài đầu tiên có cần chấm OLI không?

Thường chưa. Với một lô thử, câu hỏi là mất bao nhiêu mà không đau và đi được từng bước nào; OLI chỉ cần khi có người đề xuất dựng hoặc mua cơ sở ở nước ngoài. Đây là phán đoán của tôi, tôi không có số liệu về SME Việt Nam.

Tài liệu tham khảo

Xếp A–Z theo họ tác giả, kiểu Harvard. Nguồn có DOI thì link https://doi.org/…; nguồn không có DOI thì link trang nguồn hoặc ghi rõ không có DOI.

  1. BBC News (2008) Shunned Starbucks in Aussie exit (4 August 2008). BBC News.Không có DOInews.bbc.co.ukĐược trích trong 2 bài
  2. Dunning, J.H. (1988) ‘The eclectic paradigm of international production: a restatement and some possible extensions’, Journal of International Business Studies, 19(1), pp. 1–31.doi:10.1057/palgrave.jibs.8490372Được trích trong 4 bài
  3. Green SM (2026) Green SM officially launches fully electric taxi service in Denmark. Green SM: news.Không có DOIgreensm.comĐược trích trong 2 bài
  4. Xinhua (2019) Report on the groundbreaking of Tesla's Shanghai factory (7 January 2019). Shanghai Pudong government English site.Không có DOIenglish.pudong.gov.cnĐược trích trong 3 bài
Đọc tiếp

Bài liên quan

Tất cả bài viết

Bài này có ích với bạn không?

Chấm điểm bài viết từ 1 đến 5 sao

Chưa có lượt chấm nào.

Bình luận (0)

Chưa có bình luận, hãy là người đầu tiên.

Viết bình luận

Bình luận được kiểm duyệt trước khi hiện. Có thể mất vài giờ.