Quản trị thay đổiĐăng 9 phút đọcCó bản English

ADKAR, Kotter hay Lewin: chọn mô hình nào cho việc nào?

Dành cho chủ doanh nghiệp hoặc trưởng nhân sự đang phải chọn một mô hình thay đổi. Ba mô hình trả lời ba câu hỏi khác nhau: ai đang kẹt, lãnh đạo bỏ sót việc gì, và đợt thay đổi có hình dạng ra sao. Bài đề xuất chọn theo câu hỏi, không theo tên.

Xem .mdLinkedIn
Ảnh bìa bài ADKAR, Kotter hay Lewin trên Khoi Greenwich

Một công ty phân phối thiết bị bếp 120 người ở Cần Thơ có ba việc trong năm nay. Mười lăm nhân viên bán hàng vẫn báo giá bằng Excel dù đã có phần mềm mới. Chủ muốn chuyển từ bán cho đại lý sang bán cho công trình, còn các trưởng bộ phận thì nghi ngờ. Hai kho phải gộp thành một trong sáu tuần vì hợp đồng thuê hết hạn. Công ty và ba việc này do tôi dựng ra. Nên dùng ADKAR, Kotter hay Lewin, và dùng một mô hình cho cả ba việc hay mỗi việc một mô hình?

ADKAR, Kotter và Lewin trả lời những câu hỏi nào?

Mỗi mô hình trả lời một câu hỏi, nên chọn theo câu hỏi chứ không theo tên.

ADKAR (ADKAR (mô hình thay đổi cấp cá nhân)) hỏi từng người đang kẹt ở yếu tố nào trong năm yếu tố: nhận thức, mong muốn, kiến thức, khả năng, củng cố (Hiatt, 2006). Kotter (Tám bước thay đổi của Kotter) hỏi lãnh đạo của một đợt thay đổi lớn đã bỏ sót việc gì. Bài năm 1995 của ông kể tám sai lầm thường gặp, mỗi sai lầm gắn với một giai đoạn của quá trình (Kotter, 1995). Hình ảnh gắn với Lewin (Mô hình ba bước của Lewin) là một hình dạng: làm tan thói quen cũ, chuyển sang cách mới, rồi giữ cho cách mới đứng vững (Cummings et al., 2016).

Ba mô hình thay đổi, ba câu hỏi

Tiêu chíADKARKotterLewin
Câu hỏiNgười này đang kẹt ở yếu tố nào?Lãnh đạo đã bỏ sót việc gì?Đợt thay đổi có hình dạng ra sao?
Cấp độCá nhânCả tổ chức, thay đổi lớnNhóm và tổ chức
Hình dạngNăm yếu tố, theo thứ tựTám sai lầm, mỗi sai lầm gắn với một giai đoạnBa pha: làm tan, chuyển, đóng băng lại
Bằng chứng đi kèmChủ yếu dữ liệu đối sánh của ProsciQuan sát của Kotter ở hơn 100 công tyMột đoạn ngắn trong bài 1947
Hình 1 · Tóm tắt theo Hiatt (2006), Kotter (1995) và Cummings và cộng sự (2016). Cách diễn đạt câu hỏi, cấp độ và hàng bằng chứng là cách đọc của tôi.

Mười lăm người không dùng phần mềm báo giá: ADKAR giúp gì?

Nó giúp tách mười lăm người thành các nhóm kẹt khác nhau. Đừng giả định cả mười lăm kẹt cùng chỗ.

Theo bản tóm tắt trong thư viện, năm yếu tố đi theo thứ tự, và Hiatt lập luận kiến thức không phải điểm bắt đầu: nỗ lực xây kiến thức chỉ hiệu quả khi người học muốn đổi và đang tìm cách làm (Hiatt, 2006). Mở lớp đào tạo khi chưa ai hiểu vì sao phải đổi có thể là phí công. Hỏi từng người một câu và nghe cách họ trả lời:

Điều nhân viên nói (giả định) Yếu tố thiếu đầu tiên Việc làm đầu tiên
"Excel đang chạy tốt, sao phải đổi?" Nhận thức Cho xem số báo giá sai trong ba tháng qua và hậu quả
"Tôi hiểu, nhưng nhập khách vào hệ thống là lộ danh sách của tôi" Mong muốn Hỏi người đó sợ mất gì. Hai bài về bốn lý thuyết kháng cự và mười lý do của Kanter nói thêm
"Tôi muốn dùng nhưng không biết tạo báo giá nhiều dòng" Kiến thức Dạy đúng thao tác đó, không dạy cả phần mềm
"Học rồi, nhưng lúc gấp tôi quay lại Excel" Khả năng Có người ngồi cạnh trong tuần đầu, báo giá thật chứ không bài tập
"Dùng ba tuần rồi lại về cách cũ" Củng cố Ghi nhận người dùng, và đóng đường báo giá bằng Excel

Theo cách đọc của tôi, mô hình này hợp khi việc thay đổi đã được quyết và câu hỏi là từng người có theo kịp không. Nó không hợp khi lỗi nằm ở công cụ: nếu phần mềm bắt nhập 14 trường cho một báo giá, người ta kẹt ở thiết kế chứ không ở yếu tố nào.

Chuyển sang bán công trình: dùng danh sách của Kotter thế nào?

Dùng như bảng kiểm. Đây là việc của cả công ty, và câu hỏi của Kotter hợp: đã mắc sai lầm nào trong tám sai lầm? Ông viết rằng bỏ qua bước nào chỉ tạo ảo giác về tốc độ, và sai lầm ở bất kỳ giai đoạn nào cũng có thể làm mất đà (Kotter, 1995).

Việc theo Kotter Câu hỏi kiểm tra (giả định) Điều bài 1995 nói
Tạo cảm giác cấp bách Hỏi tám trưởng bộ phận: "làm như cũ có chấp nhận được không?" Giả sử ba người trả lời không Ông ước lượng cần khoảng 75% quản lý thật lòng tin rằng làm như cũ là hoàn toàn không chấp nhận được. Hơn một nửa rõ rệt số công ty ông quan sát hỏng ngay giai đoạn này (Kotter, 1995)
Lập nhóm dẫn dắt Ai ngoài chủ sẽ cam kết? Trong năm đầu, nhóm có thể chỉ ba đến năm người, nhưng công ty lớn phải mở rộng lên 20 đến 50 người ở các giai đoạn sau (Kotter, 1995)
Có tầm nhìn Nói được "bán công trình" trong năm phút không? Nếu người nghe chưa hiểu và quan tâm sau năm phút, giai đoạn này chưa xong (Kotter, 1995)
Gỡ vật cản Hoa hồng của nhân viên bán hàng tính theo đại lý hay theo công trình? Hệ thống lương thưởng hoặc đánh giá buộc người ta chọn giữa tầm nhìn và lợi ích riêng là một loại vật cản Kotter nêu (Kotter, 1995)

Có hai chỗ cần dè dặt. Bài không nói riêng về công ty cỡ 120 người, dù ví dụ có cả Ford lẫn một công ty nhỏ, Landmark Communications; bài về công ty hai mươi người bàn tiếp. Và bài không có dữ liệu hệ thống hay cách chọn mẫu: đó là quan sát của một người ở hơn 100 công ty, còn ngưỡng 75% là ước lượng của ông (Kotter, 1995).

Hai kho phải gộp trong sáu tuần: Lewin và 7-S giúp được gì?

Lewin ít giúp ở đây nếu coi như quy trình. By (2005) xếp Lewin vào cách tiếp cận có kế hoạch, và ghi lại bốn lời phê bình nhắm vào cách tiếp cận đó: nó nhấn thay đổi nhỏ, từng bước, nên không hợp việc cần chuyển nhanh; nó giả định điều kiện ổn định; nó bỏ qua tình huống cần chỉ đạo, như khủng hoảng, không có chỗ cho tham vấn rộng; và nó giả định mọi bên đều sẵn lòng (By, 2005). Hạn sáu tuần làm lời phê bình đầu tiên đáng cân nhắc. Hết hạn thuê chưa chắc là khủng hoảng, nên tôi không áp lời phê bình thứ ba.

Lewin vẫn có ích như một hình ảnh: cái cũ phải thôi chạy, cái mới phải thành thói quen. Cummings và cộng sự chỉ ra đoạn về ba bước chỉ là hai đoạn ngắn, 131 từ, trong cuốn sách tuyển tập năm 1951, và trong bài 1947 nó nằm ở mục thứ 24 trong 25 mục, không kèm bằng chứng thực nghiệm. Họ lập luận ông chưa xây mô hình ấy, và nó hình thành sau khi ông mất (Cummings et al., 2016). Tôi báo lại đây là lập luận của một nhóm tác giả, không phải kết luận chung; bài về nguồn gốc ba bước đi sâu hơn. Họ cũng kể nghiên cứu ở Harwood Manufacturing mà Lewin tham gia: cách thành công nhất là cho mọi bên cùng bàn quy trình và phương án trước khi chốt hướng đi (Cummings et al., 2016). Với hai kho, đó là lời khuyên dùng được, dù sáu tuần có lẽ (ý của tôi) chỉ đủ cho vài người đại diện mỗi kho cùng quyết cách xếp lại hàng.

Câu hỏi còn lại là sau khi gộp, cái gì khác bị vỡ? Đó là việc của Mô hình 7-S của McKinsey. Odeh (2021) mô tả mô hình có bảy yếu tố gồm chiến lược, cơ cấu, hệ thống, kỹ năng, nhân sự, phong cách và giá trị chung ở giữa. Các yếu tố tác động lẫn nhau như hiệu ứng domino khi một yếu tố đổi (Odeh, 2021). Dùng cho hai kho: mã hàng có thống nhất chưa (hệ thống), ai báo cáo cho ai (cơ cấu), người của kho nào giữ việc gì (nhân sự). Theo cách tôi đọc, đây là bảng kiểm, không cho biết làm gì trước.

Chọn mô hình bằng cách nào?

Đi từ câu hỏi bạn đang có.

Câu hỏi bạn đang có Mô hình Không trả lời được
Người này đang kẹt ở đâu? ADKAR Vì sao cả tổ chức không chuyển động, lỗi thiết kế công cụ
Lãnh đạo đã bỏ sót việc gì trong đợt thay đổi lớn? Kotter (1995) Từng cá nhân kẹt ở đâu
Thay đổi đã thành thói quen chưa? Hình ảnh của Lewin Làm bằng cách nào, đo ra sao
Các phần của tổ chức còn khớp nhau không? McKinsey 7-S Thứ tự việc phải làm

By (2005) nhận xét các lý thuyết hiện có thường mâu thuẫn, phần lớn thiếu bằng chứng thực nghiệm và dựa trên giả thuyết chưa bị thử thách (By, 2005). Hai cách xếp Kotter dưới đây khác nhau, nên theo tôi ranh giới giữa các nhóm lý thuyết không cố định. By đặt cuốn sách năm 1996 của Kotter cùng Kanter và Luecke vào nhóm tiếp cận nổi lên (By, 2005). Cummings và cộng sự lại xếp bài 1995 của Kotter vào các hướng dẫn n bước mà di sản của Lewin có thể đã gợi cảm hứng, kể cả vô thức (Cummings et al., 2016). Vì vậy hãy coi ba mô hình là ba câu hỏi để đặt cho người trong cuộc, không phải ba quy trình đã được chứng minh.

Đào sâu: mỗi nguồn cho biết gì, và chưa kiểm được gì?

Phần về Kotter dựa trên bài năm 1995 của ông trên Harvard Business Review. Khung tám bước trong thư viện còn dựa vào cuốn sách năm 1996 của ông và bài của Pollack và Pollack (2015); bài này không dùng hai nguồn đó nên không kể thứ tự tám bước từ chúng.

Năm yếu tố của ADKAR và lưu ý về dữ liệu Prosci lấy từ bản tóm tắt cuốn sách của Hiatt (2006) trong thư viện. Mọi điều về bài Lewin năm 1947 là qua Cummings và cộng sự; bài dựa vào bản thảo của họ trên kho lưu trữ của một trường đại học, không phải bản in, nên không có số trang. Odeh (2021) là một ca phân tích công ty Best Western Italy dựa trên số liệu thứ cấp; bài không truy nguồn gốc của McKinsey 7-S.

Điều chưa kiểm được: chưa có nguồn nào của bài so sánh kết quả của ba mô hình trên cùng một loại thay đổi. Bảng chọn mô hình là cách tôi đọc, không phải kết quả nghiên cứu.

Hỏi nhanh

ADKAR dùng cho từng người hay cho cả tổ chức?

Thư viện xếp ADKAR ở cấp cá nhân: năm yếu tố, theo thứ tự, và mỗi người có thể kẹt ở một yếu tố khác nhau (Hiatt, 2006). Theo suy luận của tôi, muốn biết cả tổ chức đang ở đâu, bạn phải gộp kết quả của nhiều người. Phần này dựa vào bản tóm tắt cuốn sách trong thư viện, không phải toàn văn.

Lewin có thật sự tạo ra mô hình ba bước không?

Cummings và cộng sự lập luận rằng ông chưa bao giờ xây một mô hình như vậy, và nó hình thành sau khi ông mất. Họ chỉ ra đoạn nói về ba bước trong bài 1947 rất ngắn, không kèm bằng chứng thực nghiệm (Cummings et al., 2016). Đây là một lập luận về lịch sử, không phải điều đã ngã ngũ.

Mô hình của Kotter có dùng được ở công ty nhỏ không?

Bài 1995 nêu ví dụ cả công ty lớn lẫn nhỏ. Ông viết nhóm lãnh đạo đổi mới trong năm đầu có thể chỉ ba đến năm người, ở công ty nào cũng vậy, nhưng ở công ty lớn nhóm phải mở rộng lên khoảng 20 đến 50 người trước khi tiến xa (Kotter, 1995). Bài không đặt ngưỡng quy mô tối thiểu. Bằng chứng là quan sát của chính Kotter ở hơn 100 công ty, không phải khảo sát.

Có nên dùng cả ba mô hình cùng lúc không?

Theo tôi, dùng mỗi mô hình cho một câu hỏi, không chồng cả ba lên một việc. By (2005) nhận xét các lý thuyết về quản trị thay đổi thường mâu thuẫn nhau và phần lớn thiếu bằng chứng thực nghiệm (By, 2005). Các nguồn của bài không kiểm chứng việc phối hợp các mô hình.

Tài liệu tham khảo

Xếp A–Z theo họ tác giả, kiểu Harvard. Nguồn có DOI thì link https://doi.org/…; nguồn không có DOI thì link trang nguồn hoặc ghi rõ không có DOI.

  1. By, R.T. (2005) ‘Organisational change management: a critical review’, Journal of Change Management, 5(4), pp. 369–380.doi:10.1080/14697010500359250Được trích trong 2 bài
  2. Cummings, S., Bridgman, T. and Brown, K.G. (2016) ‘Unfreezing change as three steps: rethinking Kurt Lewin's legacy for change management’, Human Relations, 69(1), pp. 33–60.doi:10.1177/0018726715577707Được trích trong 2 bài
  3. Hiatt, J.M. (2006) ADKAR: A Model for Change in Business, Government and Our Community. Loveland, CO: Prosci Learning Center Publications.Không có DOIĐược trích trong 1 bài
  4. Kotter, J.P. (1995) Leading change: why transformation efforts fail. Harvard Business Review.Không có DOIhbr.orgĐược trích trong 3 bài
  5. Odeh, G. (2021) ‘Implementing McKinsey 7S model of organizational diagnosis and planned change, Best Western Italy case analysis’, Journal of International Business and Management, 11(4), pp. 1–8.doi:10.37227/JIBM-2021-09-1438Được trích trong 1 bài
Đọc tiếp

Bài liên quan

Tất cả bài viết

Bài này có ích với bạn không?

Chấm điểm bài viết từ 1 đến 5 sao

Chưa có lượt chấm nào.

Bình luận (0)

Chưa có bình luận, hãy là người đầu tiên.

Viết bình luận

Bình luận được kiểm duyệt trước khi hiện. Có thể mất vài giờ.